wikivui.com logo

Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu lớp 9

Chiến tranh đã lùi xa nhưng những đau thương mất mát à nó gây ra vẫn không thể nào nguôi trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam. Trong những trận chiến ấy, bao con người đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc này, để giành lại độc lập tự do, đem ánh sáng đến cho cuộc đời nô lệ của người dân Việt Nam. Biết bao con người ra đi nhưng không bao giờ trở lại nữa, bao gia đình đã không còn hoàn chỉnh nữa, bao đứa trẻ sinh ra mà chưa được nhìn mặt ba… Thế nhưng trong những cuộc chiến ấy vẫn sáng lên vẻ đẹp của tình đồng chí keo sơn, gắn bó, cùng nhau kề vai sát cánh chiến đấu. Đây cũng là một đề tài được các nhà văn, nhà thơ lựa chọn để sáng tác. Trong đó không thể không nhắc tới bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu. bài văn mẫu dưới đây sẽ hướng dẫn các bạn làm bài văn cảm nhận về tình đồng chí trong bài thơ “Đồng chí” hay nhất.

Các bài viết liên quan tới chủ đề tình đồng chí đáng chú ý:

dong chi 1
Tình đồng chí trong bài thơ của Chính Hữu được xây dựng rất thực tế nhưng đầy tình đồng đội

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 1 CẢM NHẬN VỀ TÌNH ĐỒNG CHÍ QUA BÀI "ĐỒNG CHÍ"

“Đồng chí” của Chính Hữu là một trong những tác phẩm tiêu biểu sáng tác trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đến với bài thơ, để lại ấn tượng sâu sắc nhất với người đọc là tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó của những anh bộ đội cụ Hồ.

Mở đầu bài thơ là dòng tâm tình của hai người bạn về quê nhà với những câu thơ mộc mạc, tự nhiên:

  • Quê hương anh nước mặn đồng chua
  • Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

Quê hương anh ở nơi đồng bằng chiêm trũng “nước mặn đồng chua”, làng tôi ở vùng trung du bạc màu “đất cày lên sỏi đá”. Cả hai vùng quê đều là những vùng quê nghèo, khó trồng trọt. Từ mọi miền của đất nước, buông xuống cái cày, cái quốc, họ đến với chiến trường, họ “chẳng hẹn” mà quen nhau, bởi hoi có chung mục đích đánh đuổi giặc Pháp bảo vệ quê hương. Họ cùng nhau trải qua khó khăn, kề vai sát cánh, chia sẻ khó khăn gian khổ:

  • Súng bên súng đầu sát bên đầu
  • Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
  • Đồng chí!

Từ hai con người xa lạ hộ quen nhau, cùng chung lí tưởng mục đích chiến đấu mà trở thành đồng chí của nhau. “Đầu bên đầu” là cùng chung lí tưởng, mục đích chiến đấu, “ súng bên súng” là cùng kề vai sát cánh chiến đấu cùng nhau. Hình ảnh sóng đôi được tác giả sử dụng gợi nên tình gắn bó keo sơn của người chiến sĩ. Không chỉ cùng nhau chiến đấu, họ còn cùng nhau chia sẻ với nhau những khó khăn. Đêm tối nơi chiến khu với cái lạnh thấu xương, họ cùng chung nhau cái chăn, truyền chi nhau hơi ấm để vượt qua cái lạnh. Chỉ những hành động ấy mà giữa họ dần trở thành tri kỉ và phát triển thành một thứ tình cảm thiêng liêng hơn. Đó là tình đồng chí. Hai chữ “Đồng chí” vang lên giữa những khó khăn, thiếu thốn về vật chất, nó vừa là kết thúc của đoạn thơ thứ nhất, vừa là khởi đầu để kết nối đoạn thơ tiếp theo. Nó vang lên như một tiếng gọi thiêng liêng, trầm hùng và đầy xúc động của những người lính. Đó còn là khẳng định của tác giả: Đồng chí là cùng chung hoàn cảnh, cùng chung lí tưởng, mục tiêu cách mạng, cùng chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn, vất vả trong chiến đấu.

Vẻ đẹp của tình đồng chí còn được thể hiện khi họ sẵn sàng chia sẻ cảm thông sâu sa những hoàn cảnh, tâm tư sâu kín của nhau:

  • Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
  • Căn nhà không mặc kệ gió lung lay
  • Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Khi đã trở thành tri kỉ của nhau, khi tấm chăn đắp chung chùm lên, họ bắt đầu tâm sự với nhau về nỗi nhớ sâu kín của mình. Đó là nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương, nhớ những người thân yêu nơi hậu phương của mình. Tình đồng chí hiện lên thật sâu đậm, họ hiểu bạn như hiểu mình. Tác giả đã sử dụng hình ảnh quen thuộc như ruộng nương, giếng nước gốc đa,... gợi nhớ về quê hương của họ. Đặc biệt từ “mặc kệ” được nhà thoe sử dụng tinh tế thể hiện sự quyết tâm ra đi của người lính, lên đường cầm súng đánh giặc. Nỗi nhớ quê hương càng là động lực cho họ vững tay súng.

Tình đồng chí còn được nhà thơ thể hiện rõ nét khi họ sẵn sàng giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn:

  • Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
  • Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
  • Áo anh rách vai
  • Quần tôi có vài mảnh vá
  • Miệng cười buốt giá
  • Chân không giày
  • Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Nơi chiến trường, người lính phải trải qua bao khó khăn gian khổ. Trước hết đo là căn bệnh sốt rét quái ác, nguy hiểm và còn trong hoàn cảnh chiến tranh thiếu thốn về thuốc men thì căn bệnh này càng đáng sợ hơn. Những cơn sốt cao, cơn ớn lạnh dày vò các anh đòi hỏi các người lính phải căn răng chịu được, tự cường, tự lực mà vượt qua. Không chỉ vậy, nơi đây còn thiếu thốn rất nhiều về vật chất : áo rách vai, quần vá, chân không giày. Trong cái thời tiết khắc nghiệt ở chiến khu, các anh trải qua mà chân không vật bao bọc. Nhưng họ chưa bao giờ than vãn, cùng chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau “miệng cười buốt giá”; “ thương nhau tay nắm chặt bàn tay”. Chỉ cần một nụ cười, cái nắm tay ấy thôi cũng truyền cho người lính hơi ấm trong cái giá lạnh, truyền cho họ sự động viên, sức mạnh để vượt qua khó khăn. Từ đó thấy được sự lạc quan của người lính trong khó khăn gian khổ. Điều đó làm cho tình đồng chí thêm gắn bó keo sơn và hóa thành sức mạnh đoàn kết trong cuộc kháng chiến.

Tình đồng chí cao đẹp nhất có lẽ được biểu hiện trên mặt trận chiến đấu, tôi luyện trong thử thách gian nao:

  • Đêm nay rừng hoang sương muối
  • Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
  • Đầu súng trăng treo.

Trong khoảng thời  gian là “đêm nay” với khung cảnh là “ rừng hoang” trong cái hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt là “ sương muối” người lính vẫn đứng bên nhau trong tư thế “chờ” giặc tới. Đây là một tư thế chủ động, sẵn sàng chiến đấu trong bất cứ hoàn cảnh nào. Và khi ấy, ở một góc nhìn nào đó, tác giả đã phát hiện một hình ảnh lạ “đầu súng trăng treo”. Vầng trăng sáng trên đầu trở thành người bạn cùng kề vai sát cánh với người lính, vừa soi sáng và sưởi ấm cho người lính trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Súng và trăng, thực tại và mơ mộng, chiến tranh và hòa bình, chiến sĩ và thi sĩ, hiện thực và lãng mạn cứ đan cài vào nhau tạo nên một câu thơ tuyệt đẹp. Sự đan cài ấy vừa cho thấy hiện thực chiến tranh khốc liệt, khó khăn vừa làm sáng lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Hình ảnh đầu súng trăng treo như một bức tượng đài sừng sững cho tình đồng chí.

Bài thơ “Đồng chí” đã khắc họa thành công hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ và tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn của họ. Điều đó đã góp phần tạo nên thành công của tác phẩm và khẳng định tên tuổi của Chính Hữu.

Hikari- wikivui.com

dong chi chu bo doi

BÀI VĂN MẪU SỐ 3 VẺ ĐẸP CỦA TÌNH ĐỒNG CHÍ TRONG BÀI THƠ ĐỒNG CHÍ CỦA CHÍNH HỮU

Chính Hữu là nhà thơ chiến sĩ thơ Ông chủ yếu viết về người lính và chiến tranh. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Chính Hữu là bài thơ Đồng chí - đứa con tinh thần ra đời vào đầu năm 1948 được in trong tập Đầu súng trăng treo. Bằng hình ảnh thơ độc đáo sử dụng bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, Chính Hữu đã khiến người đọc thấu hiểu vẻ đẹp tình đồng chí đồng đội trong hoàn cảnh chiến đấu cụ thể của anh bộ đội cụ Hồ thời kỳ chống Pháp.

Bài thơ Đồng chí được viết sau khi Chính Hữu cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Qua đó, nhà thơ đã ca ngợi tình cảm đồng đội, đồng chí keo sơn, gắn bó của những người lính cách mạng mà trước hết, là được thể hiện ngay từ cơ sở xuất thân:

"Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá"

Với cách xưng hô giản dị, tân mật "anh - tôi", lời thơ như lời tâm tình, trò chuyện, các anh đã giới thiệu về quê hương làng quê của mình. Anh gắn bó với quê hương "nước mặn, đồng chua" - những vùng đất nhiễm mặn, khó trồng khó cấy. Làng tôi ở thì cằn cỗi, bạc màu khó trồng trọt, "chó ăn đá, gà ăn sỏi". Như vậy, tình đồng chí đồng đội của người lính bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó. Họ cùng chung mục đích, lý tưởng nhập ngũ, hành quân, chung lời hẹn với non sông, để từ "đôi người xa lạ" mà "chẳng hẹn quen nhau". Từ đấy, tình đồng chí càng thêm gắn bó trong cuộc sống chiến đấu: 

"Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ"

Bằng việc sử dụng hình ảnh vừa mang tính tả thực hành trình hành quân, vừa mang  ý nghĩa biểu tượng: "súng" là biểu tượng cho nhiệm vụ chiến đấu, "đầu" là biểu tượng cho lý tưởng chiến đấu, nhà thơ đã khắc họa tình cảm gắn kết bền chặt trong chiến đấu của người lính cách mạng. Các anh còn đắp chung nhau chiếc chăn mỏng trong những đêm giá rét và từ xa lạ mà quen nhau trở thành tri kỉ, hiểu bạn như hiểu mình. Để rồi những tình cảm ấy đã dồn nén tích tụ để thốt lên hai chữ "Đồng chí!". Câu thơ là một dòng thơ đặc biệt tách riêng chỉ với hai tiếng cùng dấu chấm than đã khẳng định tình cảm ấm áp thiêng liêng, gắn bó, bền chặt, đoàn kết giữa những người lính. 

Tình cảm đồng chí thiêng liêng, ấm áp ấy càng được thể hiện rõ hơn trong những câu thơ tiếp theo:

"Ruộng nương anh gửi bản thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính"

Trước tiên, những người lính tâm sự với nhau rõ hơn về gia cảnh của mình. Với người nông dân, có thể nói căn nhà, ruộng vườn là những tài sản quý giá nhất, gắn bó nhất, thế nhưng nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ đã cùng nhau "mặc kệ" tất cả để sẵn sàng lên đường nhập ngũ đánh giặc. Song, điều đó không đồng nghĩa với việc họ sẽ quên đi làng xóm, quên đi quê hương. Mà ngược lại hình ảnh quê hương quen thuộc "giếng nước gốc đa" hay chính là con người quê hương sẽ in bóng mãi trong tâm khảm người lính để trở thành động lực, sức mạnh, tình cảm to lớn dành cho các anh. Những người lính không chỉ hiểu nhau mà còn cảm thông sâu sắc cho nỗi lòng của nhau.

Tình đồng chí cùng chia sẻ những gian khổ, thiếu thốn của người lính:

"Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai 

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày"

Nhà thơ đưa những chi tiết hình ảnh thơ cụ thể chân thực nhất không hề tô vẽ để thể hiện những gian lao thiếu thốn của cuộc đời người lính ở thời kỳ đầu cuộc kháng chiến. Các anh sốt run người, vùng trán ướt mồ hôi là cùng biết cũng chịu những cơn sốt rét hành hạ ghê gớm. Giữa núi rừng Việt Bắc trong mùa đông buốt giá mà người lính chỉ có mong manh chiếc áo rách, manh quần có những mảnh vá, thiếu cả những đôi giày. Các chi tiết chân thực ấy cũng đủ tái hiện biết bao khó khăn thiếu thốn về quân trang, quân phục, thuốc men của người lính Cụ Hồ. Nhưng trong khó khăn thiếu thốn ấy những người lính lại hiện lên thật đẹp qua hình ảnh "miệng cười buốt giá", nụ cười vượt lên cái lạnh, cái rét, cái khổ tràn đầy tinh thần lạc quan, bất chấp khó khăn gian khổ. Chính tình đồng đội đã sưởi ấm lòng các anh " thương nhau tay nắm lấy bàn tay".

Càng đẹp hơn nữa chính là vẻ đẹp tình đồng chí được thể hiện trong hoàn cảnh chiến đấu cụ thể:

"Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo"

Bức tranh hiện ra với hoàn cảnh thời gian, không gian cụ thể. Đêm đã khuya, nơi núi rừng hoang vu vắng lặng, càng về đêm, sương muối càng dày hơn, càng tê buốt hơn, lạnh thấu da thịt. Trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ đó, người lính đứng cạnh bên nhau phục kích chờ giặc. Các anh đứng trong tư thế chủ động bình tĩnh sẵn sàng "chờ giặc tới". Trong đêm chiến đấu, người lính còn một người bạn nữa, đó là vầng trăng. Đêm càng khuya, trăng như sà xuống thấp dần, như đậu trên đầu ngọn súng. Đầu súng trăng treo còn là hình ảnh thơ vô cùng lãng mạn. Súng và trăng là gần và xa, là hiện thực chiến đấu và sự lãng mạn bay bổng, là hình ảnh người chiến sĩ và người thi sĩ. Sự kết hợp, giao thoa ấy đã tạo nên vẻ đẹp tâm hồn người lính. 

Tiếp cận đề tài người lính dưới góc độ bình dị, chân thành ở phương diện tình đồng chí, đồng đội, Chính Hữu đã góp phần làm phong phú hơn thơ ca thời kỳ kháng chiến. Người lính trở nên gần gũi và gắn bó hơn với cuộc sống. Từ bài thơ này, người đọc chúng ta đã nhận sức mạnh diệu kỳ của quân đội Việt Nam: tình đồng chí đồng đội góp phần làm cho dân tộc ta chiến thắng kẻ thù dù chúng mạnh hơn ta nhiều lần về vũ khí phương tiện vật chất. "Đồng chí" của Chính Hữu là một tác phẩm đặc sắc trong đề tài người lính chống Pháp. Ta thêm trân trọng và tự hào về vẻ đẹp người lính, về thế hệ cha anh đi trước và sống có trách nhiệm hơn trong hiện tại.

Vaka-wikivui.com

Văn mẫu lớp 9