wikivui.com logo

Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam lớp 9 hay nhất - 4 bài văn mẫu ngắn gọn

Khi nhắc tới đất nước Việt Nam không thể không nhắc đến chiếc nón lá Việt cùng với tà áo dài thướt tha. Chiếc nón lá đã đi vào đời sống người dân Việt Nam từ xa xưa, là vật dụng che mưa che nắng cho người lao động. Ngoài ra, chiếc nón lá còn mang một vẻ đẹp tao nhã truyền thống, trở thành một biểu tượng của người Việt Nam chúng ta. Chiếc nón lá được làm bằng những vật dụng thủ công gần gũi như lá dứa, lá cọ. Sau đây là một số bài thuyết minh chiếc nón lá Việt Nam mà chúng tôi sưu tầm được. Hy vọng sẽ giúp ích được cho các em trong học tập

Các bài viết về chủ đề nón lá Việt Nam được quan tâm trên Wikivui:

cac loai non la viet nam
Nhắc tới nón lá có lẽ nhiều người chỉ biết hoặc thường chỉ nhìn thấy những mấu nón là thông dụng thường được sử dụng ở vùng quê mình, tuy nhiên thực tế thì tùy nơi những chiếc nón lá có thể có rất nhiều loại khác nhau và cũng có thể cấu tạo từ nhiều chất liệu khác nhau, tuy nhiên nhìn chung chúng đều có hình dạng khá tương đồng là hình nón

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 1 THUYẾT MINH VỀ CHIẾC NÓN LÁ LỚP 9

Từ bao đời nay, chiếc nón lá là đồ vật quen thuộc của các bà, các mẹ, các chỉ không chỉ có công dụng như một thứ để che chắn nắng hàng ngày mà còn là một món phụ kiện làm tăng thêm nét duyên dáng, nữ tính cho người phụ nữ.

Nói về nón lá, chúng ta đều biết nón lá đã xuất hiện từ rất sớm trong dòng lịch sử của dân tộc, bằng chứng là hình ảnh chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịch từ những năm 2000-3000 trước công nguyên. Và đến ngày nay, nón lá vẫn là một sản phẩm thủ công được duy trì tại những làng nghề nổi tiếng như Dạ Lê (Hương Thủy), Đồng Di (Phú Vang), Phủ Cam (Huế). Những nơi này đã trở thành điểm du lịch hút khách cũng chính bởi sản phẩm thủ công tinh tế mà chúng sản sinh ra - nón lá. Nón lá được làm từ lá dừa hoặc lá cọ. Lá dừa phải là lá khô, được xử lí đặc biệt tuy thế người ta vẫn chuộng lá có hơn vì chỉ lá cọ mới tạo nên chiếc nón lá hoàn mĩ nhất. Lá cọ được chọn phải là non vừa với gân lá xanh và màu lá trắng. Sau khi được hơ trên bếp than và phời sương khoảng 4 tiếng, nón lá sẽ có màu trắng xanh và hiện rõ vân lá màu xanh nhẹ. Tiếp đến công đoạn chằm nón, người thợ phải chằm bằng sợi cước dẻo thật đều tay, sau đó cố định nón bằng nan tre đã uốn khéo thành vòng tròn, cuối cùng cố định chóp nón. Việc còn lại, chỉ cần quét vài lớp dầu bên ngoài lớp lá để nón thêm bóng đẹp và cài thêm dải lụa làm quai đeo để nón thêm suyên dáng là ta đã có một chiếc nón lá thành phẩm hoàn mĩ. Và để giữ gìn sự hoàn mĩ ấy, ta chỉ nên dùng nón khi trời nắng, tránh nước và khi không dùng đến thì để ở những nơi râm mát.

Như đã nói, nón lá vừa có tác dụng che mưa che nắng vừa có tác dụng thẩm mỹ, tô điểm cho vẻ yêu kiều của người phụ nữ. Hình ảnh người nông dân cày sâu cuốc bẫm trên những cánh đồng rộng lớn với chiếc nón lá che ở trên đầu từ lâu đã không còn xa lạ. Hay hình ảnh những người lao động, những dì bán nước cùng ngồi tại gốc đa đầu làng, tay phe phẩy chiếc nón để làm dịu mát những ngày hè oi ả cũng đã vô cùng quen thuộc ở nông thôn xưa. Nay, đất nước hiện đại hơn, chiếc nón ít xuất hiện trong cuộc sống đô thị đời thường nhưng lại đi vào những điệu múa truyền thống, những vở kịch, những câu hát dân ca. T ta còn dùng nón lá để là vật làm duyên cho những chiếc áo dài thướt tha duyên dáng và những bộ áo tứ thân, áo bà ba mềm mại chịu dàng. Không chỉ có vậy, nón lá còn trở thành quà tặng mang đậm truyền thống văn hóa dành cho khách du lịch nước ngoài, trở thành món đồ lưu niệm lưu giữ những nét đẹp của đất nước và con người Việt Nam. Thậm chí trong những lần lãnh đạo các nước đặt chân, chiếc nón lá cũng trở thành món quà đầy ý nghĩa thê hiện lòng hiếu khách của người dân Việt Nam.

Bởi những công dụng thiết thực cùng những ý nghĩa vô vùng sâu sắc của chiếc nón lá, ta cần duy trì nghề làm nón và những làng nghề làm nón lâu đời. Bằng cách ấy, ta không chỉ bảo tồn được một vật dụng đẹp đẽ hữu ích mà còn lưu giữ được nét đẹp văn hóa nước nhà.

trinh-wikivui.com

non la viet nam
Làm nón lá là nghề thủ công có ở nhiều nơi, tùy vào từng nhu cầu mà chất lượng và cấu tạo của nón lá sẽ hơi khác nhau 1 chút, nó cũng tạo công ăn việc làm cho khá nhiều người với 1 mức thu nhập không được cao cho lắm

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 2 THUYẾT MINH VỀ CHIẾC NÓN LÁ LỚP 9

“ Sao anh không về thăm quê em

Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên

Bàn tay xây lá , tay xuyên nón

Mười sáu vành , mười sáu trăng lên ”

( Bài thơ đan nón- Nguyễn Khoa Điềm)

      Từ cuộc đời thực, từ cuộc sống nhọc nhằn với người lao động chiếc nón lá đã đi vào những lời thơ nhẹ nhàng đằm thắm . Chiếc nón lá rất thân thuộc với dân tộc ta , đi cùng tà áo dài , chiếc nón lá làm tang thêm vẻ dịu dàng duyên dáng cho người phụ nữ Việt.

     Hình ảnh tiền thân của chiếc nón lá đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ , thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng  2500-3000 năm trước Công nguyên.  Ngày xưa nón được dung rất rộng rãi , phổ biến hiện diện trong đời sống hằng ngày , trên đồng ruộng, trong cuộc chiến đấu giữ nước , trong cả nhạc và thơ. Trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt , trải qua sự biến đổi phát triển của xã hội nghề đan nón vẫn được duy trì và tồn tại đến ngày nay.

      Nón có rất nhiều loại như : nón dấu ( nón có chóp nhọn của lính thú thời phong kiến ), nón cời ( loại nón xé te tua ở viền nón ) , nón rơm ( nón được là, bằng cọng rơm ép cứng), nón quai thao ( người miền Bắc thường hay dung để đi lễ hội đặc biệt là ở Bắc Ninh ),.. Nhưng thông dụng nhất vẫn là nón hình chóp. Nón thường được làm bằng các loại lá khác nhau như lá cọ, lá nón , lá buông, rơm, tre, lá cối, lá hồ,… Nón thường có dây đeo làm bằng vải mềm hoặc nhung lụa để giữ trên cổ, trên cằm . Nón thường có hình chóp nhọn hay hơi tù. Lá nón được xếp trên một cái khung gồm các nan tre nhỏ uốn thành hình vòng cung , được ghim lại bằng sợi chỉ hoặc cái loại sợi tơ tằm, … giữ chi nón với khung bền chắc. Khi làm nón , thợ thủ công lấy từng chiếc lá làm cho phẳng rồi lấy kéo cắt chéo đầu trên lấy kim sâu chúng lại với nhau chừng 24-25 chiếc lá cho một lượt sau đó xếp đều trên khuôn nón . Lá nón có nhiều nhược điểm nên các thợ thủ công nghĩ ngay ra tận dụng bẹ tre khô để làm lớp giữa hai lớp nón cho nón vừa cứng vừa bền. Khâu đoạn tiếp theo người thợ thủ công lấy dây cột chặt lá nón đã trải đều trên khuôn với khung nón rồi họ mới bắt đầ khâu.Chiếc nón được chuốt từ thanh tre mảnh , nhỏ và dẻo dai rồi uốn thành vòng tròn có đường kính to nhỏ khác nhau thành những cái vành nón gồm vành nón nhỏ nhất và 15 cái vành nhỏ dần , vành nhỏ nhất chỉ bé bằng đồng xu. Nón khi hoàn thành được quét một lớp dầu bóng để tang độ bền và tính thẩm mĩ. Để tạo ra chiếc nón là cả một công phu , nó không chỉ thể hiện sự khéo léo , tỉ mỉ mà đó còn là sự tài hoa của những bàn tay cần mẫn yêu nghề .

       Từ xưa đến nay, hình ảnh người nông dân dầm dãi nắng mưa trên đồng ruộng với bóng nón nhấp nhô đã quá đỗi quen thuộc . Không chỉ thế , nón còn là chiếc quạt xua đi những giọt mồ hôi dưới nắng hè gay gắt . Trong nghệ thuật tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện dịu dàng  mềm mại của người phụ nữ Việt Nam.

       Nón lá là hình ảnh bình dị , thân quen gắn liền với tà áo dài truyền thống của người con gái Việt . Nhắc đến đất nước Việt Nam du khác nước ngoài vẫn thường trầm trồ khen ngợi hình ảnh chiếc nón lá – tượng trưng cho sự thanh tao của người phụ nữ Việt. Nón lá đã đi vào ca dao , dân ca và làm nên văn hóa tinh thần lâu đời của Việt Nam.

Yang- wikivui.com

non la
Chiếc nón lá thường đi đôi với những chiếc áo dài trắng của nữ sinh hoặc những bộ áo dài truyền thống của người phụ nữ VIệt Nam, tuy nhiên thời này khi các phương tiện giao thông phát triển việc đi bộ hoặc đi xe đáp không còn nhiều nên người ta cũng ít sử dụng nón lá hơn so với trước kia

BÀI VĂN MẪU SỐ 3 THUYẾT MINH VỀ CHIẾC NÓN LÁ VIỆT NAM LỚP 9

Ở nơi xứ lạ quê người, đôi khi, chỉ cần thấp thoáng một tà áo dài, nghiêng nghiêng một tàng nón lá là cũng đủ khiến người ta thấy ấm lòng, thân thuộc. Từ lâu, chiếc nón lá đã trở thành một trong những “đại sứ văn hóa” của Việt Nam.

Chiếc lá đã gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của con người Việt Nam khiến chúng ta đã coi nó như một phần tất yếu mà đôi khi không thắc mắc về nguồn gốc của chiếc nón lá. Sự xuất hiện chính xác của nón lá, chúng ta không thể biết. Chỉ biết từ thời của những chiếc trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng Đào Thịch vào khoảng 2500 – 3000 năm trước công nguyên đã thấy nón lá được khắc hoa văn lên đó rồi. Và cứ như thế, nón lá tồn tại và đi cùng với cuộc sống sinh hoạt cũng như công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Nón được chia thành nhiều loại: loại phổ biến và thông dụng trong cuộc sống nhất chính là nón hình chóp. Những chiếc nón tôn lên sự dịu dàng của người phụ nữ Huế chính là nón bài thơ, của người con gái xứ Kinh Bắc lại là nón quai thao. Còn có những chiếc nón khác như nón cời, nón gõ, nón lá sen hay nón dấu của những lính thú thời xưa:

  • “Cậu cai nón dấu lông gà
  • Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.”

Một chiếc nón lá có thể coi là một tác phẩm nghệ thuật được tạo bởi sự kì công của tự nhiên và bàn tay con người. Đầu tiên là trong khâu chọn lá. Lá để làm nón phải là lá cọ hoặc lá dừa. Lá không phải vừa lứa, không nên quá non vì quá mềm hay quá già vì lá sẽ dễ bị gãy. Chiếc nón đẹp là khi chọn được những chiếc lá với những đường gân xanh đều nhau, mặt lá còn bóng. Sau đó, lá sẽ được đem đi sấy. Quá trình sấy phải đúng kì thuật và vừa đủ, sau đó sẽ được mang ra phơi. Thời tiết và thời gian phơi lá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền của lá. Nếu phơi trong trời mưa hay âm u, lá sẽ bị ẩm và dễ mốc còn trời nắng quá, là lại dễ bị gẫy. Sau đó, lá được cắt thành khuôn để tạo chuẩn bị cho công đoạn hai. Chiếc lá có thể định hình được chính là nhờ có khung cố định làm thành vành nón. Với chiếc nón sinh hoạt thông thường: người thợ dùng một hình chóp và những nan tre đã được chuốt tròn đều để vòng quanh, thật đều, từ nhỏ đến lớn. Sau đó, từng lớp lá sẽ được xếp đều lên. Tiếp theo, lá sẽ được chằm bằng những sợi dẻo dai (có thể là nilong dẻo hoặc sợi cước), có màu trắng trong suốt và được bôi một lớp dầu để nón vừa đẹp lại vừa bền. Chiếc nón lại càng thêm đẹp đẽ và ý nghĩa vời những hình ảnh đặc trưng của đồng quê, đất nước Việt: cây cầu, bến nước, địa danh nổi tiếng hay một bài thơ quen thuộc nào đó. Và khoảng nan thứ ba, thứ ta người ta sẽ dùng chỉ để kết đối xứng hai bên buộc quai. Chiếc quai thường được làm bằng vải, hay lụa, the, nhung với nhiều màu sắc khác nhau càng tăng thêm sự duyên dáng cho chiếc nón và cả người đội. Thế mới biết một chiếc nón được tạo ra là bao sự kì công, tỉ mẩn của một nghệ nhân.

Chiếc nón giờ đây đã trở thành thương hiệu và sự khẳng định đối với những làng nghề truyền thống. Mỗi chiếc nón đều mang theo tâm huyết và cả tâm hồn, tinh hoa Việt Nam. Có thể chọn những chiếc nón ở làng nghề: Đồng Di (Phú Vang), Dạ Lê (Hương Thủy) đặc biệt là làng nón Phủ Cam (Huế),…

Chiếc nón đã trở thành người bạn thân thiết với cuộc sống người nông dân Việt Nam. Chiếc nón cùng ông đi đánh trận năm nào, nón cùng cha ra đồng làm nên mùa vụ mới, nón cùng bà tảo tần trong những gánh hàng ra chợ, cùng mẹ duyên dáng trong tà áo dài thướt tha. Nón trở thành dụng cụ che nắng, chắn mưa, rồi trời nóng lại là chiếc quạt mát, là người bạn đồng hành của nữ sinh.

Trong tâm thức người Việt, nón lá trở thành biểu tượng của văn hóa và “sứ giả” của con người và đất nước Việt. Vì những công dụng và ý nghĩa ấy, mỗi chúng ta phải biết sử dụng và trân trọng vật dụng này. Khi dùng nón, tránh để nón va đập hay ném, vứt nón lung tung. Nên treo gọn gàng nón ở nơi quen thuộc. Nón dùng trong những ngày mưa cần để nơi kho ráo, tránh ẩm ướt để không làm nón bị ẩm mốc dẫn đến giảm tuổi thọ của nón.

Những chiếc mũ, ô ra đời càng giúp cho cuộc sống của con người thêm tiện lợi và có nhiều sự lựa chọn. Nhưng, chưa và không bao giờ chiếc nón lá lại nằm ngoài sự lựa chọn của người Việt.

-Hương Đoànn-wikivui.com

thuyet minh ve non la
Những vị khách du lịch nước ngoài cũng thường rất thích những chiếc nón lá Việt Nam và thường mua đội để trải nghiệm tránh nắng cũng như mua về làm kỷ niệm hoặc làm quà, tuy nhiên việc vận chuyển nón lá qua đường hàng không thì nó hơi cồng kềnh mặc dù trọng lượng nhẹ

BÀI VĂN SỐ 4 THUYẾT MINH VỀ CHIẾC NÓN LÁ LỚP 9

Người phụ nữ Việt Nam, xưa nay đều mang vẻ đẹp dịu dàng và đằm thắm với chiếc áo dài trắng thướt tha trong gió, và không thể thiếu hình ảnh chiếc nón lá gần gũi và thân thuộc. Gắn bó với đời sống đã lâu, chiếc nón lá nay đã thành biểu tượng văn hóa đẹp, đáng tự hào của dân tộc ta.

Nón lá đã xuất hiện từ rất lâu đời, có những nghiên cứu chỉ ra rằng, hình ảnh nón lá đã xuất hiện trên mặt trống đồng từ những năm 2500-3000 TCN. Nón có dạng hình chóp, tròn và vành rộng nên che nắng rất tốt. Đặc biệt, nón lá được làm từ những nguyên liệu tự nhiên, rất thân thiện và gần gũi với môi trường. Khung nón được làm bằng tre, vót tròn và quấn thành những vòng lớn nhỏ, mỗi chiếc nón cần 16 chiếc vòng như vậy tạo thành hình chóp, sâu khỏang 10cm. Dưới bàn tay điệu nghệ của người làm nón, vành nón không khác gì một tác phẩm nghệ thuật kỳ công, mỗi vòng đều được đặt tỉ mỉ và chính xác, không được méo và lệch, đảm bảo làm ra một chiếc nón đẹp và chất lượng nhất. Từ vòng to nhất khoảng 60cm cho đến vòng nhỏ nhất chỉ bằng một đầu ngón tay. Ban đầu, người thợ phải lấy mo nang làm cốt nón, sau đó lợp nón bằng lá cọ. Công đoạn chọn lá cần rất cẩn thận và kỹ lưỡng, lá cọ không được quá non cũng không được quá già. Cọ đem về được rửa sạch rồi phơi khô dưới nắng cho thật mềm và thật bền, sau đó là phẳng, khi đạt đủ tiêu chuẩn mới đem đi lợp nón. Người thợ xếp lá lên vành khuôn ngay ngắn, một chiếc nón sẽ có hai lớp lá và một lớp mo nang ở giữa. Những lá cọ đẹp và trắng sẽ được xếp ra ngoài nhìn sao cho đẹp mắt và tinh tế nhất. Quá trình khâu nón có lẽ tỉ mỉ hơn tất cả, nón được khâu bằng sợi cước, sợi guột nên vô cùng chắc chắn. Những đường kim mũi chỉ của người thợ làm nón đâm lên đâm xuống nhịp nhàng và thoăn thoắt, làm ra những chiếc nón lá thật đẹp và bền. Chưa hết, sau khi khâu xong, chiếc nón còn được quét thêm một lớp dầu bóng để bền đẹp và không bị mốc. Tùy từng địa phương sẽ có cách trang trí nón khác nhau, có nơi thêu lên đó bài thơ, có nơi lại thêu lên những hình ảnh thật đẹp, cô thiếu nữ hiền thục hay một bông hoa đang nở rộ. Quai nón thường được làm bằng vải nhung, rất mềm và êm, được buộc vòng từ bên này sang bên kia nón để giúp nón cố định chắc chắn khi đội.

Chiếc nón lá gần gũi, bình dị đã gắn bó với các bà, các mẹ, các chị mỗi buổi làm đồng, mỗi ngày đến trường. Nón lá không chỉ xua đi cái nắng gay gắt của mùa hè oi bức, che những hạt mưa rào bất chợt, đây còn là biểu tượng đẹp đẽ của văn hóa Việt. Ngắm những chiếc nón nhấp nhô trên cánh đồng lúa chín vàng, trên đường phố nhộn nhịp, chiếc nón lá mà người mẹ chồng vui vẻ đội cho nàng dâu mới trong đám cưới truyền thống, thấy cả một nền văn hóa truyền thống lâu bền đầy giá trị của ông cha ta ở đó. Bây giờ, nón lá còn mang nhiều giá trị ý nghĩa khác, xuất hiện trên các sân khấu nghệ thuật cũng như trong những câu ca, điệu hò, bài hát về quê hương xứ sở, có ai không yêu, không trân trọng chiếc nón lá bình dị này. Nón là cũng là món quà đầy ý nghĩa được các du khách đến Việt Nam lựa chọn, họ đội chiếc nón lá Việt, nở nụ cười tươi, dường như khoảng cách dân tộc đã biến mất tự bao giờ.

Ngày nay, xã hội hiện đại và ngày một phát triển không ngừng, tuy nhiên, chiếc nón lá vẫn là một vật dụng quen thuộc, vẫn là một biểu tượng đẹp vững bền. Nhìn thấy chiếc nón lá ở đâu, ta thấy cả đất nước Việt ta ở đó:

“Ôi nón bài thơ của xứ nhà

Có bàn tay nhỏ nở như hoa

Có thành phố cổ giàu mưa nắng

Bóng nón đi về thêm thiết tha.”

(Nguyễn Khoa Điềm)

Ziin-wikivui.com

Văn mẫu lớp 9