wikivui.com logo

3 bài văn phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy lớp 9 hay đầy đủ

Nền văn học Việt Nam từ sau năm 1975 đã thực sự bước sang đổi mới. Sự đổi mới ở đây là trên nhiều bình diện, nhiều thể loại khác nhau. Trong văn xuôi, chúng ta có thể nhắc đến những cái tên như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh,...Trong thơ là Lê Đạt, Nguyễn Duy,...Những bài làm văn mẫu dưới đây sẽ giúp các bạn phân tích bài thơ "Ánh trăng". Khi làm, các bạn có thể bộc lộ những suy nghĩ, quan điểm của riêng mình. Các bạn có thể tham khảo những bài làm văn mẫu dưới đây để từ đó có thể định hướng cách viết cho riêng mình. Chúc các bạn thành công!

Các bài viết về chủ đề ánh trăng được quan tâm trên Wikivui:

anhtrang

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 1 PHÂN TÍCH "ÁNH TRĂNG" - NGUYỄN DUY LỚP 9 HAY

Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong cuôvj kháng chiến chống Mỹ Thơ Nguyễn Duy đậm vẻ dung dị, hồn nhiên trong sáng nhưng lại thấm đẫm những chiêm nghiệm về cuộc đời khiến bạn đọc phải trầm tư sâu lắng, suy nghĩ chiêm nghiệm. Bài thơ Ánh trăng là bài thơ tiêu biểu cho phong cách của Nguyễn Duy, nó gợi nhắc con người dặc biệt là người lính nhớ về quá khứ gắn bó với thiên nhiên đất nước.

Bài thơ Ánh trăng được sáng tác năm 1978 in trong tập thơ cùng tên. Nguyễn Duy viết bài thơ Sau khi cuộc kháng chiến đã kết thúc, con người trỏ lại với cuôicj sống hện đại quên đi quá khứ sau lưng.Bài thơ ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp, ánh trăng sáng gắn bó với người lính trong suốt nhũng năm tháng trên chiến trường đồng thời nhắc nhở von người phải sống ân nghĩ thủy chung, giữ trọn đạo lý tốt đẹp.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh ánh trăng thiên nhiên vủa tuổi thơ bình dị in sâu trong kí ức nhà thơ. Giọng thơ đền đạn trầm ổn như kể về một câu chuyện tốt đẹp trong qua khứ.

  • "Hồi nhỏ sống với đồng
  • với sông rồi với bể
  • hồi chiến tranh ở rừng
  • vầng trăng  thành tri kỉ."

Vầng trăng gắn bó với nhà thơ trong suốt quá khứ khi là một cậu bé. Hình ảnh trăng hiện lên cùng với “ đồng, sông, bể” , cách gieo vần lưng làm cho câu thơ trở nên mềm mại uyển chuyển đồng thời thấy một tuổi thơ tươi đẹp mà tác giả gắn bó với thiên nhiên. Điệp từ “ vơi” càng khẳng định điều đó. Đến khi chiến tranh bùng nổ cậu bé năm nào trưởng thành và tham gia kháng chiến, vầng trăng cũng theo chân người lính trẻ, đồng hành với cậu từ những bước đầu gian khổ . Nhà thơ sử dụng từ “ hồi” để nhấn mạnh sự hời tưởng về quá khứ khiw có vầng trăng. Gắn bó suốt tuổi thơ cùng những năm tháng xông pha chiến trường, vầng trăng đối với người lính đã trở thành người bạn tri kỉ không thể thiếu.

Nhà thơ cũng đã bày tỏ tình cảm da diết của mình với vầng trăng tri kỉ

  • “Trần trụi với thiên nhiên
  • hồn nhiên như cây cỏ
  • ngỡ không bao giờ quên
  • cái vầng trăng tình nghĩa.”

Nhà thơ đã miêu là vầng trăng như một người bạn thực sự . Các từ “ trần trụi, hồn nhiên” thể hện tính cách của vầng trăng là một người bạn chân thật và thẳng thắng như cây cỏ như thiên nhiên non mềm. Gắn bó với trăng như thế nhà thơ tưởng như sẽ không bao giờ quên đi ánh trăng, quên đi tình bạn tri kỉ thân thiên bao lâu nay . Như từ ngỡ đặt đầu câu như báo hiệu một chuyện gì không hay sẽ xảy ra. Chính nhân vật trữ tình đã quên đi ánh trăng tình nghĩa khi về với cuộc sống hiên đại

  • “Từ hồi về thành phố
  • quen ánh điện, cửa gương
  • vầng trăng đi qua ngõ
  •  như người dưng qua đường”

Sau khi chiến tranh kết thúc, con người trở lại với đời sống hiện đại, trở lại vơi những cơ sở vật chất hiện đại “ ánh điện, cửa gương” thì dần quên đi cuộc sống gian khó của những ngày còn chinh chiến, con người mải tất bật với công việc , với nhịp sống nhanh, sống vội của người hiện đại nên đã quên đi vầng trăng tình nghĩa. Vậy nên vầng trăng đi qua ngõ thì như người dưng qua đường. Nghệ thuật nhân hóa cùng so sánh đã biến trăng thành một con người có tri giác . Và thật đau đớn thay khi vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa kia giờ là người dưng nước lã không còn một mảnh quan hệ với con người.

Nguyễn Duy đã xây dựng một tình huống truyện trong thơ, tạo kịch tích, nút thắt vho câu truyện thơ về vầng trăng

  • Thình lình đèn điện tắt
  •  phòng buyn đinh tối om
  • vội bật tung cửa sổ
  •  đột ngột vầng trăng tròn."

Từ láy thình lình được đặt lên đầu câu nhấn mạnh đây là một tình hướng đặc bệt chưa có sự chuẩn bị trước khiến con người bất ngờ. Trong không gian sáng ánh đèn điện, thì con người không nhìn thấy trăng và khi đèn điện vụt tắt, phòng building tối om con người đã hành động theo bản năng tìm đến ánh sáng của tự nhiên đó là bật tung cửa sổ . Động từ mạnh vội, bật, tung được đặt cạnh nhau cho thấy hành động nhanh mạng tính bộc phát của con người . Từ đột ngột cho thấy thái đọ bất ngờ ngạc nhiên đến kinh ngạc của con người khi nhìn thấy ánh trăng. Và hình ảnh vầng trăng tròn xuất hiện như một điều hiển nhiên , trăng vẫn tròn vẫn đẹp nhưng lòng người đã đổi thay phai nhạt.

Sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm cho bao nhiêu kỉ niệm của tuổi thơ ùa về khến nhà thơ thấy có gì đó “ rưng rưng” muốn khóc

  • “Ngửa mặt lên nhìn mặt
  • có cái gì rưng rưng
  • như là đồng, là bể
  • như là sông, là rừng”.

Gặp lại người bạn xưa, quá khứ ùa về như dòng thác, nhà thơ không kiềm được lòng mình mà rưng rưng muốn khóc. Trong một câu thơ tác giả đã sử dụng hai từ “ mặt” để , mặt ở đây là mặt trăng hay mặt người bạn tri kỉ lâu năm không liên lạc, người bạn gọi nhớ về những ngày tháng tuổi thơ tươi đẹp những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt đồng hành cùng ánh trăng xưa. Chính nhà thơ như nhận ra sự bạc bẽo vô tình của mình

Kết thúc bài thơ là một chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả về vầng trăng về con người

  • “Trăng cứ tròn vành vạnh
  • kể chi người vô tình
  •  ánh trăng im phăng phắc
  • đủ cho ta giật mình... ”

Trăng vẫn cứ tròn đầy trong trẻo, vẫn tròn vành vạnh. Từ láy vành vạnh như khẳng định sự nguyên vẹn của trăng khẳng định tình nghĩa khăng khịt không phai nhạt theo thời gian của trăng mặc cho con người đã quên đi ánh trăng, quên đi tình nghĩa ngày nào. Ánh trăng như một người bạn nghiêm khắc nhưng bao dung. Dù người đã quên ánh trăng nhưng trăng vẫn ở đó mạng quá khứ nguyên vẹn thủy chung chờ đợi con người. Sự im lặng của trăng càng làm cho con người thấy được sự vô tình bạc bẽo của mình. Và cái giật mình kết thúc bài thơ là cái giật mình thức tỉnh lương tâm, tìm lại con người có tình nghĩa như phút ban đầu. Đó là cái giật mình đáng trân trọng mà con người cần có.

Ánh trăng dường như thoát ra khỏi câu truyện thơ đầy ý nghĩa của Nguyễn Duy để đến với độc giả, mỗi người đều có một ánh trăng riêng mình vô cùng chung thủy, tình nghĩa. Hình tượng ánh trăng sẽ mãi trường tồn cùng với tên tuổi Nguyễn Duy.

Lee- wikivui.com

anh trang nguyen duy

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 2  PHÂN TÍCH BÀI THƠ “ ÁNH TRĂNG ” CỦA NGUYỄN DUY LỚP 9

        Nguyễn Duy là một nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước . Thơ của ông đầy ắp cảm xúc trữ tình và giàu triết lí sâu sắc. “Ánh trăng” sáng tác năm 1978 – ba năm sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Đây như một lời nhắc về những năm tháng khó khăn, cuộc đời người lính gắn bó với quê hương, thiên nhiên, đất nước.

        Bài thơ Ánh trăng như một câu chuyện kể theo trình tự thời gian hơn nữa  bài thơ chỉ viết hoa  chữ cái đầu mỗi khổ, cả bài chỉ có một dấu chấm việc này tạo nên sự liền mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình. Trước hết là hình ảnh vầng trăng trong kĩ ức của nhân vật trữ tình.

  • “ Hồi nhỏ sống với đồng
  •    với sông rồi bể
  •    hồi chiến tranh ở rừng
  •   vầng trăng thành tri kỉ”

         Hồi là mốc thời gian đưa nhân vật trữ lình trở về với kí ức tuổi thơ. Điệp từ “với” kết hợp phép liệt kê : đồng, sông, bể nhấn mạnh mối quan hệ gắn bó giỡ còn người và thiên nhiên, mở ra một không gian mênh mông, cao rộng. Cong người có thể ngắm trăng ở bất cứ nơi đâu. Phép nhân hoá giúp trăng trở thành một con người, một người  tri kỉ. Theo thời gian, con người cũng bắt đầu trưởng thành rồi trở thành người thành người lính chiến đấu trong quân ngũ. Trong những đêm trèo đèo lội suối, băng rừng hay những đêm phục kích chờ giặc, trăng luôn đồng hành cùng người chiến sĩ dù bất cứ không gian nào.

  • “ Trần trụi với thiên nhiên
  •    hồn nhiên như cây cỏ
  •    ngỡ không bao giờ quên
  •    cái vầng trăng tình nghĩa”

          Thuở ấy con người sống hồn nhiên, giản dị, trân thật, gắn bó với thiên nhiên như cây cỏ sông suối. Phép nhân hoá đã cho thấy trăng và ngừoi giờ đây không chỉ là người bạn tri kỉ mà đã trở thành người bạn tình nghĩa ngỡ như không thể quên, không thể tách rời.

  Thời gian qua đi, con người giờ đây cũng thay đổi, hình ảnh vầng trăng hiện tại ( năm 1978) trong suy nghĩ của tác giả cũng đã phai mờ theo năm tháng .

  • “ Từ hồi về thành phố
  • quen ánh điện cửa gương
  • vầng trăng đi qua ngõ
  • như người dưng qua đường”

       Chiến tranh kết thức, người chiến sĩ trở về với cuộc sống đời thường. Nhân vật trữ tình trong bài thơ này cũng trở về với cuộc sống của người dân thành phố, mải mê với những điều mới lạ, những thiết bị tân tiến “ ánh điện cửa gương” không còn nhớ tới quá khứ, tới người bạn tri kỉ hồi nào. Vầng trăng vẫn xuất hiện theo vòng tuần hoàn của thời gian nhưng giờ đây lại hoà cùng với ánh điện, mờ nhạt trong tâm tưởng người lính. Cuộc sống tiện nghi hiện đạ đã khiến tam hồn con người có chút đổi thay, vô tình lãng quên đi quá khứ, cố nhân.

  •  “ Thình lình đèn điện tắt
  •    phòng buyn-đinh tối om
  •    vội bật tung cửa sổ
  •     đột ngột vầng trăng tròn”

         Một hiện tượng xảy ra trong đời sống của người dân thành phố, khi ấy không gian tối om và theo bản năng họ tìm tơi sánh sáng của vầng trăng của thiên nhiên vũ trụ. Từ láy “thình lình, đột ngột” cho thấy sự bất ngờ trong giây phút gặp lại cố nhân. Ánh sáng của trăng soi tỏ căn phòng tối, soi vào từng ngóc ngách tâm hồn con người, soi cả vào kí ức đã bị lãng quên của nhân vật trữ tình. Để từ đây, họ nhận ra mình đã từng là một kẻ vô tình vô nghĩa với trăng, với quá khứ, với nhân dân, đất nước. Hiện tượng mất điện không quá xa lạ với người dân thành phố nhưng có lẽ đay là cái cớ để tác giả thể hiện chủ đề, tư tưởng, bước ngoặt trong câu chuyện của nhân vật trữ tình.

  • “ Ngửa mặt lên nhìn mặt
  •    có cái gì dưng dưng
  •    như là đồng là bể
  •    như là sông là rừng”

        Nghệ thuật ẩn dụ được tác giả sử dụng thành công khi để mặt người đối diện đàm tâm với mặt trăng. Ánh sáng soi tỏ tâm tưởng của nhân vật trữ tình giúp họ nhận ra những sai lầm của bản thân. Để từ đây có thể bọc lộ được cảm xúc rưng rưng, nghẹn ngào đang dâng trào trong lòng họ.

        Khổ thơ cuối bài mang ý nghĩa biểu tượng của vầng trăng

  • “Trăng cứ tròn vành vạnh
  • kể chi người vô tình
  • ánh trăng im phăng phắc
  • kể chi người vô tình”

          Hình ảnh trăng vừa mang nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc cùng với đó là nghệ thuật nhân hoá ánh trăng trở thành một nhân chứng nghĩa tình , nghiêm khắc nhắc nhở con người về thái độ sống uống nước nhớ nguồn. Trăng bao dụng độ lượng, không oán trách “ kể chi người vô tình”  nhưng cũng khiến con người giật mình để nhìn lại bản thân đã là người vô tình vô nghĩa. Ở khổ thơ này ta thấy được hai hình ảnh song song mà đối lập: đối lập giữa cái tròn vành vạnh của trăng với sự hụt vơi trong lòng kẻ vô tình; đối lập giữa cái im phăng phắc của trăng và hành động giật mình của nhân vật trữ tình. Khổ thơ cuối bài mang ý nghĩa tư tưởng của vầng trăng đồng thời mang đầy tính triết lí, chủ đề của tác phẩm.

           Bài thơ Ánh trăng thành công với giọng điệu tâm tình nhịp thơ trôi chảy tự nhiên mà sâu lắng, hình ảnh giàu giá trị gợi cảm mang tính triết lý sâu sắc. Qua đây tác giả muốn gửi tới tất cả mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ chúng ta một bài học về đạo lý : sống với hiện tại, nghĩ về tương lai và nhớ về quá khứ.

Yang – wikivui.com

anh trang
Cận cảnh ánh trăng tròn

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 3  PHÂN TÍCH BÀI THƠ “ ÁNH TRĂNG ” CỦA NGUYỄN DUY LỚP 9

“Văn chương chân chính dù sáng tác ở thời đại nào cũng góp phần gợi mở, định hướng giá trị sống cho con người hiện tại.” Quả thật vậy, mỗi tác phẩm văn học đều mang trong mình những bài học nhân sinh sâu sắc và tác phẩm “Ánh trăng” của nhà thơ Nguyễn Duy cũng là một tác phẩm văn học chân chính khi gửi gắm tới bạn đọc bài học có giá trị muôn thời – bài học về lối sống ân nghĩa, thủy chung.

Tác phẩm “Ánh trăng” được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978 khi đất nước đã giải phóng được khoảng ba năm. Bước ra khỏi cuộc sống chiến đấu gian khổ đề sống những ngày tháng hòa bình, độc lập, con người ta thường dễ dàng lãng quên đi những quá khứ gian lao mà tình nghĩa của một thời. Bởi vậy, để nhắc nhở chính mình cũng như mọi người, Nguyễn Duy đã sáng tác nên bài thơ này,

Mở đầu tác phẩm, tác giả đưa người đọc trở về sống trong những ngày tháng quá khứ với những kỷ niệm khó phai:

  • “Hồi nhỏ sống với đồng
  • với sông rồi với bể
  • hổi chiến tranh ở rừng
  • vầng trăng thành tri kỷ”

Sự xuât hiện của những hình ảnh “đồng”, “sông”, “bể”, “rừng” gợi cho ta liên tưởng đến khoảng không gian bao la, khoáng đạt. Không gian ấy cứ mỗi lúc được mở rộng hơn trước mắt chúng ta. Kèm theo đó là sự lớn khôn, trưởng thành của nhân vật trữ tình. Mới ngày nào chỉ là một đứa trẻ hồn nhiên nô đùa trên đồng ruộng sông nước quê hương vậy mà giờ đã trở thành người lính trường thành xông pha trận mạc gian khổ. Gắn bó thân thiết cùng với người lính, “vần trăng trở thành tri kỷ”, luôn đồng hành, chia ngọt sẻ bùi cùng người lính trong suốt những đêm dài chiến dịch. Bởi vậy mà người lính năm xưa đã từng khẳng định:

  • “ngỡ không bao giờ quên
  • cái vầng trăng tình nghĩa”

“Ngỡ” có nghĩa là nghĩ, là tin, là tưởng. Nói ra điều này chứng tỏ người lính luôn tin tưởng rằng tình cảm gắn bó giữa mình và trăng sẽ mãi mãi bền chặt, không thể tách rời. tuy nhiên ngỡ không bao giờ quên có nghĩa là đã có lúc trót quên. Câu thơ mang chút ngậm ngùi, xót xa bởi những tình cảm gắn bso tưởng chùng khoong bao giờ thay đổi vậy mà giờ đã đổi thay. Dòng hoiif tưởng về quá khứ khép lại nhưng cũng lại mở ra một bước ngoặt mới, tạo bước đệm để thể hiện được tư tưởng bài thơ.

Chiến tranh kết thúc, người lính rời xa núi rừng gian khổ về với cuộc sống phố phường hiện đại, nơi có “ánh điện”, “cửa gương” xa hoa, hào nhoáng. Cuộc sống ấy hoàn toàn đối lập với cuộc sống kháng chiến gian khổ, thiếu thốn trước đây của người lính. Nhưng sự thay đổi về hoàn cảnh sống ấy lại tới một sự đổi thay khác – sự đổi thay trong lòng người:

  • “vầng trăng đi qua ngõ
  • như người dưng qua đường”

“Người dưng” là người xa lạ không quen biết và đau đớn hơn là người dưng ấy lại đã từng là tri kỷ một thời. Thế mới biết sức mạnh cuộc sống vật chất ghê gớm đến mức độ nào. Nó có thể làm thay đỏi cả lương tâm con người. Quên đi trăng đồng nghĩa với việc người lính đã quên đi quá khức gian lao mà nghĩa tình, quên đi mất mát hi sinh của dân tộc, quên đi chính bản thân mình với những lý tưởng cao đẹp của một thời tuổi trẻ. Thế nhưng, một tình huống đã xảy ra:

  • “Thình lình đèn điện tắt
  • phòng buyn – đinh tối om
  • vôi bật tung cửa sổ
  • đột ngột vầng trăng tròn”

Từ láy “đột ngột” được đảo lên đầu câu nhấn mạnh thái độ ngạc nhiên, ngỡ ngàng của người lính khi gặp lại vầng trăng tròn vành vạnh trên bầu trời thành phố. Có thái độ ấy còn bởi vì bấy lâu nay nười lính đã quên trăng, coi trăng là xa lạ nhưng vầng trăng vẫn hiện diện, vẫn thủy chung với con người một cách vẹn nguyên như thuở còn gian khó. Trong giây phút gặp lại “cố nhân” ấy, người lính có hành động “ngửa mặt lên nhìn mặt”. Tác giả không viết “ngửa mặt lên nhìn trăng” bởi lẽ ông đã thực sự coi trăng là một con người trong cuộc hội ngộ không hẹn trước. Chính trong lúc ấy, nhà thơ lại thấy “rung rung” bao nỗi niềm xúc cảm, muốn nói mà chẳng thể cất thành lời. Một lần nữa , các hình ảnh “đồng”, “sông”, “rừng”, “bể” lại một lần nữa xuất hiện mở ra những trang ký ức quá khứ nghĩa tình năm xưa. Trăng giờ đây hiện lên là biểu tượng cho vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, đất nước; cho một thời quá khứ nghĩa tình; cho một thời tuổi trẻ với bao lí tưởng sống tốt đẹp.

Đoạn thơ cuối kết tinh những suy ngẫm của người lính về vầng trăng;

  • “Trăng cứ tròn vành vạnh
  • kể chi người vô tình
  • ánh trăng im phăng phăc
  • đủ cho ta giật mình.”

Cấu trúc “cứ…kể chi…” gợi ra hình ảnh người và trăng trong trạng thái đối lập tương phản” trăng mãi thủy chung, nguyên vẹn dù con người có bội bạc, lãng quên. Nghệ thuật nhân hóa góp phần nhấn mạnh vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên đất nước. Trong cuộc gặp gỡ, trăng không một lời trách mắng mà chỉ “im phăng phắc”. Phép nhân hóa khiến ta liên tưởng đến hình ảnh của vị quan tòa tuy bao dung độ lượng nhưng vô cùng nghiêm khắc khiến con người phải giật mình. Cái “giật mình” ở đây là cái giật mình đầy ý nghĩa. Người lính “giật mình” là bởi đã nhận ra được lỗi lầm của bản thân, những vô tình, sai phạm đáng trách. “Giật mình” còn do sự ăn năn, hối lỗi, xấu hổ trước vầng trăng tình nghĩa vẫn vẹn nguyên, tự thấy bản thân cần phải thay đổi cách sống. Có được những giây phút như vậy, con người sẽ sống trong sáng hơn, lương thiên hơn, tốt đẹp hơn. Bài thơ đi dần về những triết lí sâu sắc của cuộc đời. Nó là lời nhắc nhở ta về một đạo lí sống từ ngàn xưa của dân tộc ta – lối sống ân nghĩa, thủy chung, ương nước nhớ nguồn. Ta không được phép quên đi những mất mát hi sinh của những người đi trước, những người đã hi sinh mồ hôi và xương máu cho chúng ta ngày nay được hưởng một cuộc sống bình yên, độc lập. Bởi thế, mỗi người đặc biệt là thế hệ trẻ phải biết sống có trách nhiệm, sống sao cho xứng đáng với những gì mình được hưởng.

Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ, chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi khổ khiến dòng cảm xúc liền mạch tạo cho bài thơ dáng dấp như một câu chuyện kể theo trình tự thời gian, kéo dài từ quá khứ đến hiện tại. Tác giả xây dựng được hình tượng vầng trăng giàu ý nghĩa biểu tượng, từ đó giúp nhà thơ truyền tải những thông điệp sâu sắc đến bạn đọc. Bài thơ không chỉ là câu chuyện của riêng tác giả mà là cả với những thế hệ đã từng đi qua chiến tranh, những ngày tháng gian lao mà nghĩa tình.

Đi qua ngày tháng bom rơi đạn lửa, con người ta sống trong thời bình bởi vậy mà dễ dàng quên đi một thời đã qua. “Ánh trăng” của Nguyễn Duy có giá trị muôn thời là bởi vậy. Nó đã định hướng một lối sống tình nghĩa, thủy chung không chỉ với thế hệ khi ấy mà cả hiện tại và mai sau.

Mochi-wikivui.com

Văn mẫu lớp 9