wikivui.com logo

cảm nhận bài "Phú sông Bạch Đằng"

Bạch Đằng- một nhánh sông đổ ra biển Đông, nằm giữa Quảng Ninh và Hải Phòng, là nơi chứng kiến nhiều chiến thắng lịch sử của dân tộc ta. Chúng ta không thể quên được chiến thắng của Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán. Trương Hán Siêu qua bài phú "Phú sông Bạch Đằng" đã thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc. Những bài làm văn mẫu dưới đây sẽ giúp các bạn làm đề văn cảm nhận bài "Phú sông Bạch Đằng" của Trương Hán Siêu . Khi viết bài, các bạn cần lưu ý là dựa vào văn bản để phân tích, tránh xuyên tạc nội dung. Bài viết cần rõ ràng, mạch lạc, không dùng những từ tối nghĩa, đảm bảo bố cục của một bài văn. Những bài làm văn mẫu dưới đây có thể sẽ là định hướng giúp các bạn có những ý tưởng cho riêng mình. Các bạn hãy bộc lộ những suy nghĩ của riêng mình để bài viết mang màu sắc cá nhân. Chúc các bạn học tốt!

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 CẢM NHẬN BÀI "PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG"

Trong số các tác giả thơ văn trung đại của nền văn học Việt Nam ta, đặc biệt là khoảng thế kỉ thứ XIV chúng ta không thể không nhắc đến Trương Hán Siêu - một nhà thơ nặng lòng với non sông đất nước. Và tâm tư tình cảm sâu sắc của ông với con sông Bạch Đằng hùng vĩ của dân tộc đã được thể hiện khéo léo trong tác phẩm “Phú sông Bạch Đằng”, tác phẩm đã trở thành đỉnh cao của nền thơ văn dân tộc

“Phú sông Bạch Đằng” (hay còn có tên chữ Hán là Bạch Đằng giang phú) được dự đoán ra đời vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến thắng lợi chống quân Mông - Nguyên của nhà Trần. Có thể thấy, sông Bạch Đằng không còn xa lạ khi là niềm cảm hứng thơ văn cho nhiều tác giả nhưng đối với Trương Hán Siêu, ông lại gửi gắm vừa xúc động, hoài niệm vừa chân thực, thiết tha nhằm khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự tôn, tự hào dân tộc đồng thời cũng khẳng định những tư tưởng sâu sắc, nhân văn về giá trị nhân con người. Đọc bài phú ta có thể thấy rõ nó toát lên là sự kết hợp hoàn hảo giữa tâm hồn của một nghệ sĩ lãng tử, một sử nhân hoài cổ và một nỗi niềm nhân thế thầm kín của tác giả.

“Khách có kẻ:

Giương buồm giong gió chơi vơi,

Lướt bể chơi trăng mải miết.

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,

Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt.

Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,

Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết.

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,

Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.

Bèn giữa dòng chừ buông chèo,

Học Tử Trường chừ thú tiêu dao,

Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều,

Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều.”

Trước hết, về hình tượng nhân vật người khách, ông xuất hiện với việc thăm thú các địa danh nổi tiếng: Nguyên Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô,… Nhưng điều đặc biệt là ông di chuyển qua những nơi đó nhờ vào sách vở và trí tưởng tượng phong phú. Bên cạnh đó cũng có  Đại Than, Đông Triều, Bạch Đằng đều là những địa điểm mà ông được thực tế trải nghiệm. Chúng đều là những nơi rộng lớn, thoáng đạt và hơn thế là những mốc son chói lọi trong lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Dưới nét bút tài hoa của những vị khách khung cảnh thiên nhiên hiện lên thật thơ mộng, hùng vĩ:

“Bát ngát sóng kình muôn dặm

 Thướt tha đuôi trĩ một màu

Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu,

Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.

Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô,

Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu.

Thương nỗi anh hùng dâu vắng tá,

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!”

Nếu như câu thơ thứ nhất gợi cho người đọc cảm nhận về không gian bao la rộng lớn, những con sóng nối tiếp nhau tạo ra khung cảnh hết sức hùng vĩ thì câu thứ hai lại gợi hình ảnh hoành tráng, bát ngát nhưng không kém phần ảm đạm, hiu hắt “bờ lau, xương khê”. Điều này đã thể hiện tâm trạng của tác giả gồm bao cảm xúc lẫn lộn: vui, tự hào và cả buồn đau, nuối tiếc. Vui vì sông nước hùng vì thơ mộng, tự hào vì dòng sông chính là nơi ghi dấu bao chiến tích. Đồng thời tác giả cũng thể hiện nỗi niềm buồn đau, nuối tiếc vì chiến trường xưa oanh liệt, hào hùng là thế mà nay hoang vu, thời gian khiến cho cảnh vật xơ xác, đìu hiu.

Không chỉ dừng lại ở việc bày tỏ nỗi niềm xúc cảm của một vị khách tác giả còn gửi gắm trong tác phẩm câu chuyện của các bô lão:

“Bên sông bô lão, hỏi ý ta sở cầu?

Có lẻ gậy lê chống trước, có người thuyền nhẹ bơi sau,

Vái ta mà thưa rằng:

Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng Nhị Thánh bắt Ô Mã,

Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.

Đương khi ấy:

Thuyền bè muôn đội, tinh kỳ phấp phới.

Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói.

Trận đánh được thua chửa phân,

Chiến lũy bắc nam chống đối.

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,

Bầu trời đất chừ sắp đổi.

Kìa: Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối,

Những tưởng gieo roi một lần,

Quét sạch Nam bang bốn cõi!

Thế nhưng: Trời cũng chiều người,

Hung đồ hết lối!

Khác nào như khi xưa:

Trận Xĩch Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay,

Trận Hợp Phì Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.

Đến nay nước sông tuy chảy hoài,

Mà nhục quân thù không rửa nổi!

Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi.”

Các bô lão hồ hởi đến gặp vị đại quan đón khách bằng hai đường thuỷ bộ, họ còn hào hứng kể lại chiến công lừng lẫy năm xưa. Khí thế trận đánh được các bô lão kể lại theo trình tự diễn biến trận đánh. Khí thế quân sĩ, vũ khó của ta, trang bị thuyền bè,... đều voi cùng oai hùng, đáng tự hào. Đó chính là khí thế “sát thát”, chủ động chờ giặc và chủ động tiến công giặc. Hơn thế nữa, biện pháp khoa trương “Ánh mặt trời, mặt trăng làm mở cả trời đất” kết hợp cùng biện pháp so sánh “địch-ta”, “xưa-nay” cũng như giọng kể hết sức sôi nổi, hào hứng của các bô lão để làm nổi bật sự đại bại của quân giặc.

Sự đại bại ấy khiến quân giặc không chỉ hết sức ô nhục, khiến dân ta vô cùng tự hào đã được các bô lão phân tích và giải thích nguyên nhân sau 50 năm kể từ chiến thắng vang dội đó như sau:

“Tuy nhiên: Từ có vũ trụ, đã có giang san.

Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở,

Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an.

Hội nào bằng hội Mạnh Tân: Như vương sư họ Lã,

Trận nào bằng trận Lưu Thủy: Như quốc sĩ họ Hàn.

Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,

Bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn.

Tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn.

Đến bên sông chừ hổ mặt,

Nhớ người xưa chừ lệ chan.

Rồi vừa đi vừa ca rằng:

Sông Đằng một giải dài ghê,

Luồng to sóng lớn dồn về bể Đông.

Những người bất nghĩa tiêu vong,

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:

Anh minh hai vị Thánh quân,

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.

Giặc tan muôn thủa thanh bình,

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.”

Trước tiên chúng ta thắng lợi chính là nhờ vào thiên thời, ta thắng vì ta được lòng trời, ta chiến đấu vì chính nghĩa, giặc phi nghĩa nên đại bại là tất nhiên. Tiếp đó, chúng ta có địa lợi, nghĩa là đất hiểm bởi sóng nước thuỷ triều, con nước Bạch Đằng cũng góp phần giúp chúng ta đạt được chiến công vang dội. Cuối cùng cũng là nguyên nhân quan trọng nhất: nhân kiệt chính là bởi chúng ta có những con người tài giỏi điều hành trận chiến, chỉ đạo đất nước. Và tác giả còn truyền đạt lời bình luận và kết thúc của các bô lão. Các cụ đã khẳng định những chân lí muôn đời là “sông Bạch Đằng dù có rộng lớn nhưng cũng sẽ chảy về biển Đông” giống như “kẻ bất nghĩa chắc chắn sẽ tiêu vong” và “người anh hùng sẽ được lưu danh sử sách đời đời”. Thiết nghĩ đó cũng chính là những quy luật tất yếu của cuộc sống. Còn những vị khách thì hết lòng ca ngợi chiến tích của nhân dân ta, đồng thời khẳng định trong hai yếu tố địa linh và nhân kiệt thì nhân kiệt là yếu tố tiên quyết cũng như cái đức con người là quan trọng nhất.

Tác phẩm “Phú sông Bạch Đằng” khép lại nhưng những xúc cảm hào hùng tự hào và cả sự nuối tiếc chiến công oanh tạc một thời vẫn còn mãi không nguôi trong lòng người đọc bao thế hệ hôm nay và mai sau.

Thành-wikivui.com

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 CẢM NHẬN BÀI "PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG"

Trương Hán Siêu – con người cương trực, học vấn uyên thâm, và được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. Ông vừa là nhà văn, nhà thơ. Trong sự nghiệp sáng tác của ông có khá nhiều bài văn, bài thơ hay, lắng đọng lòng người, gợi hình gợi vật, nổi bật là bài thơ “Bạch Đằng giang phú”

Bạch Đằng là nơi ghi dấu nhiều những chiến công của lịch sử dân tộc. Dòng sông Bạch Đằng soi sáng vào nhiều thơ văn của tác giả Nguyễn Trãi (Bạch Đằng hải khẩu), Nguyễn Sưởng (Bạch Đằng giang),…Bài thơ “Bạch Đằng giang phú” được tác giả viết khi đang du ngoạn trên sông Bạch Đằng khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên thắng lợi. Bài thơ tả cảnh vật, phong tục, kể về sực việc và bàn chuyện đời. Hình tượng nhân vật trong bài thơ mang tính chất hư cấu, được miêu tả khoa trương.

Mở đầu bài thơ, nhân vật “Khách” xuất hiện. Khách xuất hiện với tư thế của một con người phóng khoáng, rộng mở, hòa mình với thiên nhiên, có hoài bão lớn lao

“ Khách có kẻ:

Giương buồm giăng gió chơi vơi,

Lướt bể chơi trăng mải miết”.

“Tráng chí bốn phương” được gợi lên qua hàng loạt các địa danh, đó là những địa danh nhân vật khách đi qua chủ yếu bằng sách vở, bằng trí tưởng tượng

“Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,

Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt.

Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,

Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết.

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều”

Đó đều là những địa danh gợi không gian rộng lớn. Đi cùng với các địa danh ấy là những tính từ miêu tả sự xuất hiện liên tiếp “chơi vơi”, “mải miết”, “tha thiết” để nhấn mạnh và khẳng định cái thú ngao du thiên hạ của nhân vật “khách”. Việc tác giả liệt kê hàng loạt các địa danh lịch sử là những nơi đến, những điểm dừng của “khách” chỉ mang tính chất ước lệ để khẳng định và cho ta thấy mục đích dạo chơi phong cách của khách đó là “Học Tử Trường chừ thú tiêu dao”, “khách” muốn học theo Tư Mã Thiên thuở trước với thú tiêu dao không phải chỉ để thưởng thức vẻ đẹp vẻ đẹp thiên nhiên mà còn nghiên cứu cảnh trí đất nước để mở mang tầm hiểu biết và có khát vọng tìm hiểu văn hóa dân tộc qua các chuyến đi. Hình ảnh dòng sông hiện lên qua cái nhìn của nhân vật khách đó là một Bạch Đằng với vẻ đẹp hung vĩ, hoành tráng và diễm lệ

“Bát ngát sóng kình muôn dặm,

Thướt tha đuôi trĩ một màu.

Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu”

Quả là thi trung hữu họa, câu thơ vẽ ra bức tranh sông nước với lớp lớp song kình là hình ảnh những con sóng to dữ dội như cá kình, với những con thuyền lối đuôi nhau tấp nập. Đôi lập với Bạch đằng diễm lệ là hình ảnh một dòng sông Bạch Đằng ảm đạm, hiu hắt

“Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.

Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô”

Cảnh vật hai bên bờ sông vắng vẻ, hoang tàn gợi lên dấu tích của chiến trường xưa”.

Cũng cùng chung tâm trạng, cảm xúc với Trương Hán Siêu khi đến thăm dòng sông Bạch Đằng lịch sử, trong bài thơ “Bạch Đằng hải khẩu” Nguyễn Trãi có viết

“Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng”.

Đó là cảm hứng hoài cổ  thường gặp trong thơ ca, đặc biệt là thơ ca viết về lịch sử.

Trước cảnh tượng dòng sông Bạch Đằng với một tâm hồn đầy phong phú và nhạy cảm, “khách”vừa vcui vừa tự hào lại vừa buồn đau, thương tiếc. Vui trước cảnh sông nước hùng vĩ, thơ mộng, tự hào trước  dòng sông lịch sử ghi dấu bao chiến công của dân tộc. Buồn đau thương tiếc vì cảnh chiến trường xưa oanh liệt nay đã bị thời gian làm mờ đi dấu vết và những người anh hùng một thời nay đã đi vào di vãng. Đây là một cảm xúc mang đầy chất hoài cổ. Như vậy, phần đầu hiện lên là một nhân vật “khách” với những chiều tâm trạng khác nhau.. Có thể nói nhân vật khách chính là sự hiện hữu của cái tôi tác giả, đó là con người có tâm hồn phóng khoáng, khát khao mở rộng tầm hiểu biết về văn hóa lịch sử và có tắm lòng tha thiết với quá khứ dân tộc.

Trong phần tiếp theo là hình ảnh các bô lão hồ khởi đến gặp “khách”, trò chuyên với một thái độ niềm nở, đầy tôn kính, sau đó hào hứng kể về chiến công của buổi Trùng Hưng nhị thánh. Hình ảnh các bô lão có thể là hình ảnh đại diện cho nhân dân địa phương, là hiện thân của quá khứ, là chứng nhân lịch sử, hoặc cũng có thế các bô lão là nhân vật mang tính chất hư cấu, là hiện thân cho tâm tư của chính tác giả. Vì vậy, mà hình tượng các bô lão tạo lên tính xác thực và tin cậy cho câu chuyện về lịch sử các bô lão sẽ kể cho “khách” nghe . Qua lời kể ,tả của các bô lão những hình ảnh ,sự kiện , khí thế của trận đánh lịch sử hiện lên hết sức sinh động , lối kể theo trình tự diễn biến trận đánh mang lại cho người đọc những hình dung vô cùng cụ thể . Đầu tiên ,tác giả nói đến khí thế của quân sĩ với trang bị vũ khí , thuyền bè … tất cả đều mạnh mẽ ,oai hùng . Sau đó là những phút giây căng thẳng , gay cấn nói lên tình thế giằng co quyết liệt giữa địch và ta . Biện pháp nghệ thuật khoa trương phóng đại tạo nên những hình ảnh hoàng tráng cho khung cảnh chiến trường

“Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,

Bầu trời đất chừ sắp đổi”

Với lối so sánh, liên tưởng, địch và ta, giữa xưa và nay, tác giả đã làm nổi bật sự thất bại thảm hại của quân giặc trước tài trí của quân dân nhà Trần, giặc thua như:

“Trận Xĩch Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay,

Trận Hợp Phì Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi”.

Tuy lịch sử đã lùi xa song hào khi nơi đây vẫn còn vang mãi

“Đến nay nước sông tuy chảy hoài,

Mà nhục quân thù không rửa nổi!

Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi”.

Câu thơ cho thấy trạng thái đối lập, sự vận động của dòng nước luôn chảy trôi không ngừng ngược với nỗi nhục quân thù nhưng nghìn năm không rửa nổi. Qua đó cũng để nhấn mạnh công lao, chiến công hào hùng trên dòng sông lịch sử. Kể về những chiến công này các bô lão thể hiện một thái độ tự hào, ngợi ca với cảm hứng đầy nhiệt huyết của người trong cuộc với một lòng yêu nước thiết tha, mãnh liệt. Kết thúc đoạn hai vẫn là lời của các bô lão nói với “khách”, bộc lộ cảm xúc của các bô lão với tư cách là người trong cuộc, chứng nhân lịch sử, các bô lão cảm thấy đau xót, hổ thẹn khi những dấu tích nơi đây đã chở thành hoa phế, đồng thời còn cảm thấy hổ thẹn với việc gánh nghiệp cha anh – những người anh hùng trước. Đó cũng là những cảm xúc mang đạm chất hoài cổ giống với tâm “khách” trong phần đầu bài phú.

Phần cuối của bài phú là lời bình luận của các bô lão, “khách” khẳng định và đề caovai trò của con người. Lời ca của bô lão khẳng định môt jquy luật tự nhiên và chân lí của lịch sử. Đó là quy luật dòng sông Bạch Đằng rộng lớn rồi cũng sẽ hướng về biển Đông để lưu giữ lại những chiến công hiển hách nơi đây. Lời ca khẳng định sự vĩnh hằng : tác giả khẳng định sự vĩnh hằng của chân lí lịch sử tồn tại bất nghĩa tiêu vong , anh hùng lưu danh. Chân lí ấy được so sánh như hình ảnh của dòng sông Bạch Đằng đêm ngày luồng các sóng lớn dồn về biển Đông theo quy luật của tự nhiên. Từ đó khẳng định và ngợi ca sự bất tử của người anh hùng làm nên chiến thắng. Lời ca của “khách” tiếp nối lời ca của các bô lão ca ngợi sự anh minh của các anh hùng, ca ngợi chiến tích trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử nhiều lần đánh thắng quân xâm lược. Ở hai câu cuối lời ca này, “khách” đã khẳng định và nêu cao vai trò của con người ta thắng giặc không chỉ ở đất hiểm mà quan trọng là bởi có nhân tài với đức cao. “Khách” nhấn mạnh phẩm chất quan trọng nhất của người anh hung, người có đức là người làm việc nghĩa hợp ý trời, hợp lòng dân. Vì vậy lời ca ấy kết thúc bài phú vừa mang niềm tự hào dân tộc, vừa mang tư tưởng nhân văn cao đẹp.

Bài phú thể hiện lòng yêu nước, tự hào về truyền thống đấu tranh, anh hùng bất khuất, đạo lí nhân nghĩa sáng ngời dân tộc. Tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao, ca ngợi vị trí, vai trò của con người. Bạch Đằng giang phú là tác phẩm đỉnh cao thể loại phú trong văn học Việt nam thời kì trung đại. Bố cục chặt chẽ, lời văn linh hoạt. Hình tượng nghệ thuật sinh động vừa gợi hình sắc trực tiếp, ý nghĩa khách quan triết lí. Ngôn từ vừa trang trọng, hào sản, vừa lắng đọng, gợi cảm. Sử dụng điển tích, điển cố chọn lọc giàu sức gợi tả, sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trữ tình hoài cổ với tự sự tráng ca đã làm cho bài phú trở nên thật đặc biệt

Nội dung hào sảng, hình ảnh giàu sức tưởng tượng phong phú đã làm bài phú tồn tại vĩnh hằng còn mãi với muôn đời. Hình tượng nhân vật mang tính chất hư cấu, được miêu tả khoa trương hiện lên thật lớn lao để lại ấn tượng sau sắc trong lòng người đọc.

Myhuong-wikivui.com

BÀI VĂN MẪU SỐ 3 CẢM NHẬN BÀI "PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG"

Trương Hán Siêu là người  tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. Tác phẩm của ông hiện còn lại không nhiều, trong đó có bài Phú sông Bạch Đằng. Bạch Đằng là một nhánh sông đổ ra Biển Đông, nằm giữa Quảng Ninh và Hải Phòng, nơi ghi dấu nhiều chiến công lịch sử giữ nước của dân tộc. “Phú sông Bạch Đằng” được viết từ cảm hứng hào hùng và bi tráng. Trương Hán Siêu trong một lần dạo chơi đã viết bài phú này. Chưa rõ bài phú được viết năm nào, có lẽ khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên thắng lợi. Phú sông Bạch Đằng đã thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trước chiến công trên sông Bạch Đằng, đồng thời ngợi ca truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm cũng chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử.

“Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú “Bạch Đằng Giang phú” là một kiệt tác trong văn chương cổ Việt Nam. Về mặt nghệ thuật, đây là tác phẩm thể hiện đỉnh cao của tài hoa viết phú. Về nội dung tư tưởng, Bạch Đằng Giang phú là áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh thần tự hào dân tộc và hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc khi nhìn nhận nguyên nhân thành công của dân tộc trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước.. Nhà thơ nhà văn Việt Nam xưa nay rất ít người thờ ơ trước vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc: “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu” (Nguyễn Trãi). Ngao du trên con sông lịch sử ấy đã khơi gợi cho Trương Hán Siêu biết bao nhiêu cảm xúc hào hùng của một thời kì lịch sử, Trong niềm cảm khái đó, Trương Hán Siêu đã viết lên bài “Phú sông Bạch Đằng”.

“Khách có kẻ:

Giương buồm giăng gió chơi vơi

Lướt bể chơi trăng mải miết

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,

Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”

Khách xuất hiện như thể mang theo một giấc mộng hải hồ, đắm mình cùng thiên nhiên. Kẻ lãng du ấy kéo theo cả hàng loạt những địa danh, những phong cảnh đẹp của Trung Hoa vốn chỉ biết trong sách vở. Tác giả đi thăm các danh lam thắng cảnh này chủ yếu bằng sách vở và trí tưởng tượng của mình: Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt…  “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời. Vẫn trong bài phú về sông Bạch Đằng, tiếp theo mấy câu vừa dẫn, ông liền bày tỏ ý nguyện bắt chước “thú tiêu dao” của Tử Trường tức Tư Mã Thiên - nhà viết sử nổi tiếng của Trung Quốc

Nơi có người qua đâu mà chẳng biết.

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều

Mà tráng chí tứ phương vẫn còn tha thiết...”

Cũng có thể nghĩ đấy mới chỉ là những lời tâm niệm của Trương Hán Siêu bởi các địa danh nói trên đều là điển cố trong văn liệu, ông được đọc qua sách vở, hay là thông qua sách vở mà tìm đến chúng chứ chưa chắc đã một lần ghé thăm Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển, bằng cách chuyển đoạn thần tình trong tâm trạng người trần thuật từ bâng khuâng hoài cổ sang cảm xúc bồng bột của người đang chứng kiến sự việc tiếp diễn, bằng nghệ thuật sắp xếp ngôn từ gây âm hưởng đa dạng, vừa khoan thai thoắt đã trở nên gấp gáp, rồi lại trở lại khoan thai, và cả bằng sự sinh động của nhịp điệu... mấy trăm năm qua bài phú đã chiếm lĩnh trọn vẹn tâm hồn người đọc. Trời nước, lau lách như gợi lại chuyện cũ, khiến người hôm nay không tránh khỏi động lòng tiếc nuối, xót thương cho bao anh hùng đã khuất.

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu

Câu thơ khiến ta nhớ đên bài thơ Cửa biển Bạch Dằng khi nỗi buồn ấy vẫn man mác đâu đây.

Ngạc chặt kình băm non lởm chởm;
Giáo chìm gươm gãy bãi tầng tầng
... Dòng sông tìm bóng dạ bâng khuâng.

Nếu như phần đầu là lời của khách thì đoạn hai là lời của các bô lão. Sự xuất hiện của họ làm cho việc miêu tả chiến trận thêm sinh động, đồng thời việc chuyển ý được tự nhiên. 

Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.

Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô.

Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu.

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!

Nếu như ở đoạn 1, khách chính là tác giả thì ở đoạn 2, các bô lão là hình ảnh tập thể, xuất hiện nhằm tạo ra vẻ tự nhiên của một cuộc trò chuyện. Bạch Đằng không lúc nào tĩnh lặng nhưng vẫn hiền hòa, nên thơ: sóng kình muôn dặm/ đuôi trĩ một màu/ nước trời: một sắc/ phong cảnh: ba thu. Bức tranh mở ra hết tầm trên độ rộng, lắng xuống ở độ sâu. Tan tác tro bay/ hoàn toàn chết trụi đăng đối lại càng nhấn mạnh đến sự thảm bại của kẻ thù ôm theo giấc mộng: gieo roi một lần/ quét sạch Nam bang bốn cõi để muôn đời nước sông chảy hoài mà nhục quân thù khôn rửa nổi. Các trận đánh được tái hiện từ thời Ngô Quyền đến thời Trần Hưng Đạo. Điều đó cho thấy thời ấy dân tộc ta luôn phải đương đầu với quân xâm lược phương Bắc và vận nước nhiều lúc lâm nguy, ngàn cân treo sợi tóc.

Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới,

Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói,

Trận đánh được thua chửa phân,

Chiến lũy bắc nam chống đối.

Tái tạo công lao – Nghìn đời ca ngợi cũng đủ cho người đọc cảm nhận một cách sâu sắc tầm vóc to lớn của chiến thắng Bạch Đằng trong sự nghiệp bảo vệ giang sơn gấm vóc của quân dân đời Trần. Điều đáng lưu ý, khi nói về quân địch, các bô lão nhấn mạnh và yếu tố tinh thần. 

Những người bất nghĩa tiêu vong

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

Lời thơ như lời thề đất nước sẽ mãi phồn vinh không bị tiêu vong trước những kẻ địch ngoại xâm, mạnh mẽ với những anh hùng dũng trí gan dạ bậc nhất.

Thế nhưng:

Trời cũng chiều người,

Hung đồ hết lối

Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay,

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.

Đến nay sông nước tuy chảy hoài,

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.

Tái tạo công lao,

Nghìn xưa ca ngợi.

Tuy nhiên:

Từ có vũ trụ,

Đã có giang san.

Quả là: trời đất cho nơi hiểm trở,

Cũng nhờ: nhân tài giữ cuộc điện an!

Hội nào bằng hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lã,

Trận nào bằng trận Duy Thuỷ, có quốc sĩ họ Hàn.

Khi trận Bạch Đằng mà đại thắng,

Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.

Tất cả mọi chiến tháng lẫy lừng là bởi đây là cuộc chiến chính nghĩa được lòng trời hợp lòng dân bởi thế  thế giặc dù gian nan cách trở nhường nào cũng không thắng nooir sự hùng mạnh dân ta. Nhà thơ đưa không gian Bạch Đằng từ một viễn cảnh trải rộng và hết sức bao la đến với cận cảnh của một trận thủy chiến dữ dội, và cuối cùng dồn vào một tiêu điểm là chỗ đứng nội tâm của nhà chỉ huy quân sự quyết định sự thắng bại của chiến cuộc, đồng thời cũng chính là đang từ một không gian hiện thực ông quay trở về với không gian hồi cố, không gian tâm tưởng, cùng theo đó, thời gian nghệ thuật cũng đi lùi từ hiện tại về quá vãng. , sức mạnh của dân tộc ta cùng sự đồng lòng, thuận lợi của trời đất khiến cho bọn cướp nước phải đón nhận kết quả tất yếu, đó là thất bại “Hung đồ hết lối”. Và để thể hiện được niềm vui sướng, tự hào trước sức mạnh của dân tộc, Trương Hán Siêu đã so sánh chiến thắng trên sông Bạch Đằng của ta với các chiến thắng lừng lẫy của chính đất nước xâm lăng chúng ta:

“Khác nào khi xưa

Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi”

Bởi đại vương coi thế giặc nhàn, đã sẵn sàng mọi con đường tiến lui là Thiên. Nhân tài giữ cuộc điện an là Nhân, là cái tài lớn của kẻ làm tướng thu phục được lòng dân. Trong đó, vai trò của Nhân là quyết định. Bởi người anh hùng là phải biết tạo thời thế, chứ không trông chờ vào thời thế. Thủ pháp mờ chồng giữa hai thời đoạn cách quãng trên quang cảnh một con sông, thủ pháp hoán đổi điểm nhìn linh hoạt của tác giả... đã góp phần hóa giải tâm trạng hoài cổ của bài phú, tạo nên một tâm lý cân bằng và gây hứng thú sâu sắc trong cảm xúc thẩm mỹ. Hai bài ca ở đoạn cuối là niềm tự hào về non sông hùng vĩ gắn với các chiến công lịch sử và thể hiện quan niệm của tác giả về yếu tố quyết định trong sự nghiệp đánh giặc giữ. nước chính là con người.

Tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn.

Bài ca đầu là lời bình luận của các bô lão mang ý nghĩa tổng kết, có giá trị như một tuyên ngôn về chân lí: những kẻ bất nghĩa như Lưu Cung thì tiêu vong, còn những người anh hùng như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo thì lưu danh thiên cổ:

Sông Đằng một dải dài ghê,

Luồng to sóng lớn dồn về bể Đông

Những người bất nghĩa tiêu vong,

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

Trong lời ca của mình, các vị bô lão đem so sánh cái quy luật tự nhiên bất biến của Bạch Đằng giang sẽ cuồn cuộn chảy ra biển cũng như quy luật muôn đời của nhân thế là những kẻ bất nghĩa sẽ bị tiêu vong, còn người anh hùng sẽ lưu danh thiên cổ. Lời ca một lần nữa phê phán mạnh mẽ quân thù phương Bắc và ngợi ca những anh hùng dân tộc sẽ được lưu danh muôn đời. Với tâm trạng hân hoan, khách vừa đề cao công lao to lớn của các vị anh hùng đời Trần, vừa bày tỏ niềm tin vào sức sống mãnh liệt và tương lai tươi sáng của đất nước, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tới các yếu tố đức cao của dân tộc.  Sức mạnh của non sông đất nước không phải ở địa thế hiểm trở mà trước hết ở con người (Giặc tan muôn thuở thanh bình – Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao).
Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:
“Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.”

Ngôn từ vừa trang trọng, hào sảng, vừa lắng đọng, gợi cảm. Tính chất hoành tráng của bài phú thể hiện ở cảm hứng lịch sử dạt dào âm vang chiến thắng oanh liệt, ở những chứng tích gắn liền với dòng sông nổi tiếng. Phú sông Bạch Đằng là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam thật xác đáng. Với lối kết cấu đặc trưng, câu văn, giọng điệu linh hoạt, bút pháp ước lệ, tượng trưng kết hợp với lối nói cường điệu, hình tượng nhân vật đặc sắc, bài phú đã thể hiện sâu sắc những hoài niệm về quá khứ của tác giả Trương Hán Siêu  đã thể hiện được tình yêu nước, lòng tự hào dân tộc mạnh mẽ, đó chính là niềm tự hào trước những chiến công hiển hách, lừng lẫy của quân dân Đại Việt ta. Trương Hán Siêu mượn hình ảnh con sông Bạch Đằng lưu dấu bao vết tích lịch sử oai hùng để thể hiện tình yêu quê hương đất nước của mình. Từ đó, ông bày tỏ niềm tự hào dân tộc, đồng thời như một lời nhắc nhở những thế hệ mai sau phải biết tiếp nối truyền thống cha anh để lại. Tác giả lại rất giỏi phân thân thành những nhân vật khác nhau để vừa kể vừa phụ họa thêm... làm cho bài phú giàu chất thơ khiến người đọc xúc động tự hào về non sông đất nước hùng vĩ, về chiến công lừng lẫy và đường lối giữ nước tài tình của quân dân nhà trần mà cũng là của dân tộc ta bảy thế kỉ trước.

hikari- wikivui.com