wikivui.com logo

Cảm nghĩ về bài thơ sau phút chia li lớp 7 hay nhất - 3 bài văn phân tích

Chiến tranh không chỉ phá hủy những làng mạc, thôn xóm, những công trình kiến trúc, những tòa lâu đài, những thành quách kiên cố,…mà còn khiến con người mất đi những hạnh phúc bình dị mà thiêng liêng trong đời mình. Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực đời sống nên đương nhiên văn học cũng không thể quay lưng với chiến tranh. Nhìn vào chiến tranh để thấy những đau thương nó gây ra, xét đến cùng là chủ nghĩa nhân đạo của ngòi bút nhà văn. Những bài làm văn mẫu dưới đây sẽ giúp các bạn cảm nghĩ về bài thơ “Sau phút chia ly”. Khi cảm nghĩ, các bạn cần lưu ý là đặt văn bản trong bối cảnh ra đời của nó, có thể đan xen những cảm xúc, quan điểm của cá nhân để bài viết thêm sinh động, hấp dẫn. Các bạn có thể tham khảo những bài làm văn mẫu dưới đây để từ đó có thể định hình cách viết cho riêng mình. Chúc các bạn thành công!

chinh phu ngam khuc sau phut chia li

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 CẢM NHẬN BÀI THƠ SAU PHÚT CHIA LI LỚP 7 CHINH PHỤ NGÂM KHÚC

Trong thời phong kiến xưa, người phụ nữ phải chịu rất nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Khi đó họ không có quyền tự định cuộc sống, số phận của mình mà đều phụ thuộc vào người cha, người chồng. Các tác giả trung đại cũng đã viết nhiều tác phẩm thể hiện sự thấu hiểu đồng cảm với người phụ nữ trong giai đoạn này, và trong số các tác phẩm đó có lẽ tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn là ấn tượng nhất. Văn bản” Sau phút chia ly” là đoạn truchs sau khi người vợ ngậm ngùi tiễn chồng nơi biên ải, nàng trở về đơn chiếc xót xa:

  • “Chàng thì đi cõi xa mưa gió
  • Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
  • Đoái trông theo đã cách ngăn
  • Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
  • Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
  • Bến Tiều Dương thiếp hãy trông sang
  • Khói Tiên Tương cách Hàm Dương
  • Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
  • Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy
  • Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
  • Ngàn dâu xanh ngắt một màu
  • Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

Đoạn trích đã thể hiện rõ nhất tâm tình của người phụ nữ đó chính là nỗi niềm nhớ nhung da diết và cả sự mong mỏi lo lắng của người vợ có chồng ra trận. Bài được viết theo thể song thất lục bát. Bài thơ như lá thư người vợ nhắn gửi chồng đi lính xa nhà. Với cách sử dụng từ ngữ độc đáo và kết hợp các câu thất đoạn trích đã toát lên nội dung chính là phản đối chiến tranh, thể hiện rõ khát vọng hoà bình, mong có được gia đình yên ấm hạnh phúc của người chinh phụ. “Chàng thì đi cõi xa mưa gió/ Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn” Bởi hoàn cảnh đất nước lâm nguy mà người chồng đã phải rời xa gia đình để lên đường ra trận. Cụm “ cõi xa mưa gió” đã ho ta thấy được bao nguy hiểm ẩn chứa, sự gian nan có thể hi sinh tính mạng bất cứ khi nào. Còn trong nỗi lòng của người vợ thì “buồng cũ chiều chăn” chất chứa bao nỗi cô đơn, muộn phiền và cả sự nhớ nhung của những cặp vợ chồng son. Cặp đối “ chàng thì- thiếp thì” đã thể hiện nỗi buồn u ám, muộn phiền bao trùm không gian bài thơ. Khi nghĩ về nhau họ chỉ biết:” Đoái trong theo đã cách ngăn/ Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh”. Khi đưa chồng đi, lòng nàng chỉ biết chôn chặt nỗi buồn nỗi nhớ trong lòng. Từ “đoái” ở đây không chỉ có nghĩa là ngoái lại, nhìn theo mà còn ẩn chứa sự đau đớn, mệt mỏi đầy nỗi niềm của người vợ. Nhưng càng nhìn theo nhau thì họ lại càng chỉ thấy bát ngát một màu xanh của núi non trùng điệp. Nỗi buồn của đôi vợ chồng trẻ như ngầm cả vào cảnh vật dưới ngòi bút tài hoa của Đoàn Thi Điểm thì lại càng xót xa, da diết hơn:” Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại/Bến Tiều Dương thiếp hãy trông sang/Khói Tiên Tương cách Hàm Dương/Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng./Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy/Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu/Ngàn dâu xanh ngắt một màu”. Trong đoạn thơ tiếp nỗi buồn đau nhớ nhung diết da đã được thể hiện rõ qua những điển tích cổ, thủ pháp đối và cả phép điệp ngữ thú vị, giàu tính nghệ thuật. Các địa danh được tác giả nhắc đến trong bài đều là những điển tích của Trung Quốc thể hiện sự xa cách, chia lìa. Đặc biệt, phép đối rất chỉnh cũng nói lên tonhf cảm sâu sắc của cặp vợ chồng dành cho nhau. Phép điệp ngữ “Tiêu Dương”, “Hàm Dương”, “thấy”,”xanh”,” ngàn dâu” càng khắc hoạ rõ hơn nỗi niềm quyến luyến chẳng muốn rời xa . Không chỉ thế, thể thơ thất ngôn bát cũ càng in sâu giọng điệu trầm buồn cũng như là nỗi thớ tha thiết khôn nguôi của người vợ. Dẫu vậy mà vạn vật dường như càng tách họ ra xa nhau hơn:”Ngàn dâu xanh ngắt một mà/Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” Ý muốn nói biển rộng đã biến thành ruộng dâu tít tắp trải dài vô tận, cách ngăn hai tâm hồn. Không dừng lại ở đó cách sử dụng từ ngữ chỉ các sắc thái màu xanh cũng là dụng ý nghệ thuật của tác giả. Từ” xanh xanh”- màu xanh nhẹ, nhạt đến “xanh ngắt”- màu xanh đậm đã thể hiện sự tăng tiến, đồng thời màu xanh cũng là màu của ly biệt càng khắc sâu nỗi buồn diết da, cắt tim người đọc. Câu hỏi tu từ cuối bài là câu hỏi bỏ ngỏ khép lại khiến độc giả không khỏi day dứt khi nghĩ đến cảnh ly biệt, tiễn chồng ra trận của người vợ trẻ. Đoạn trích đã sử dụng thể thơ song thất lục bát và kết hợp sử dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật tu từ, điển tích điển cố tác giả đã thể hiện rõ nỗi nhớ thương sâu sắc của ngừoi vợ có chồng ra trận. Đó là cảm xúc da diết nghẹn ngào không khỏi xúc động và chất chứa cả sự căm thù chiến tranh, khát khao hoà bình và gia đình ấm êm hạnh phúc. Văn bản” Sau phút chia ly” đã vô cùng thành công trong việc gửi gắm bao mục đích, suy nghĩ nhân văn của tác giả.

Bài thơ không quá dài nhưng đủ xúc tích và hết sức ấn tượng, để lại trong lòng người đọc những xúc cảm chân thành nhất, xứng đáng là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng thời trung đaib của văn học Việt Nam.

Thành-wikivui.com

sau phut chia ly

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ SAU PHÚT CHIA LY

Viết về người phụ nữ vốn là đề tài quen thuộc trong lịch sử văn học, đặc biệt trong văn học trung đại. Những người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh, bị vùi dập bởi những hủ tục phong kiến như những kiếp chồng chung, tảo hôn, hôn nhân ép buộc, …được khắc họa trong nhiều tác phẩm nổi tiếng của Hồ Xuân Hương hay trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), … Cùng viết về đề tài này, Đặng Trần Côn lại viết về những người chinh phụ chờ chồng đi chiến trận với bản dịch xuất sắc của Đoàn Thị Điểm. “Sau phút chia li” là một trong những đoạn trích tiêu biểu nhất của tác phẩm.

“Chinh phụ ngâm” được Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng thế kỉ XIII, tình hình đất nước lúc bấy giờ rất nguy nan. Chiến tranh loạn lạc kéo dài khiến cho cuộc sống của người dân lúc bấy giờ đầy khó khăn. Đàn ông trong nhà đều phải đi lính, bởi vậy nên cảnh hạnh phúc gia đình chia cắt, vợ chia tay chồng, con chia tay cha. Đặng Trần Côn đã khắc họa lại cảnh người vợ phải tiền chồng ra lính đầy bi thương, sâu thiết:

  • Chàng thì đi cõi xa mưa gió
  • Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
  • Đoái trông theo đã cách ngăn
  • Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.

Hai câu thơ đầu như lời thuật lại đầy đau thương về cảnh chia li đầy đau thương của đôi vợ chồng trẻ. Khi mà hạnh phúc chẳng được bao lâu đã rơi vào cảnh chồng nơi chiến trận không biết sự sống ngày mai thế nào, người vợ ở nhà cô đơn, mòn mỏi chờ chồng. Bút pháp đối lập “chàng thì đi” và “thiếp thì về” càng làm nổi bật sự chia ly. Họ chia li bởi không gian rộng lớn “tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh”, cho dù cố ngoái nhìn theo cũng không thể. Nỗi buồn của sự chia li ấy dâng đầy, tràn ra cả không gian rộng lớn. Xa cách nhau, họ vẫn cố nhìn lại để thấy được hình bóng thân quen bởi lần li biệt ấy có thể cũng là lần cuối cùng:

  • Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
  • Bến Tiều Dương thiếp hãy trông sang
  • Khói Tiên Tương cách Hàm Dương
  • Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Chốn Hàm Dương- Bến Tiêu Tương đều là những địa điểm có thật, ở khoảng cách rất xa nhau. Nếu như ở những câu thơ trên thì khoảng cách giữa người chinh phu và người chinh phụ mới chỉ là sự ước lệ “ngàn núi xanh” thì ở những câu thơ này nó đã được xác định bằng vị trí địa lí. Nhưng cho dù sử dụng cách nói nào thì khoảng cách giữa họ cũng lên đến mấy trùng. Những hình ảnh sóng đôi chốn Hàm Dương- Bến Tiêu Tương rồi đến khói Tiêu Tương- bến Hàm Dương được tác giả sử dụng rất thành công. Chia xa trùng trùng, nỗi buồn cũng như trùng điệp.

Người chinh phụ ngóng theo hướng chinh phu nhưng càng ngóng trông càng thấy vô vọng, sầu thẳm, chỉ còn thấy được chia cách muôn trùng:

  • Cùng trông mà lại cùng chẳng thấy
  • Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
  • Ngàn dâu xanh ngắt một màu
  • Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Ta như thấy được khoảng cách ngày càng mở rộng. Sự tăng tiến của các tính từ xanh cùng với cách lặp vòng ngàn dâu khiến cho không gian như càng mở rộng ra, chia li càng xa hơn. Nơi chiến trường, người chinh phu ngóng về chinh phụ, nơi quê nhà, người chinh phụ cũng hướng về chinh phu. Thế nhưng ở khoảng cách địa lí như vậy, thứ duy nhất có thể thấy là không gian rộng lớn, những ngàn dâu xanh bạt ngàn tưởng như trải rộng cả không gian. Đặc biệt câu hỏi tu từ ở cuối bài thơ như một nốt trầm sâu trong bản ca buồn. Chia cắt, thử hỏi ai không buồn. Câu hỏi đó vang lên thật khó để tìm được câu trả lời, nỗi sầu trong lòng đâu thể đong đếm được chứ. Nó vang vọng từ chính cõi lòng của người chinh phụ và người chinh phu, càng như nhấn thêm tâm trạng sầu thảm của mỗi người.

“Sau phút chia li” đã diễn tả được gần như đầy đủ nội dung mà Đặng Trần Côn muốn thể hiện. Đoạn trích đã thể hiện được tâm trạng của người chinh phu và chinh phụ khi phải li biệt để ra chiến trường. Từ đó thấy được tài năng của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm.

Hikari- wikivui.com

chinh phu ngam khuc

BÀI VĂN MẪU SỐ 3 CẢM NHẬN BÀI THƠ SAU PHÚT CHIA LI

Trong chùm thơ về gia đình, bên cạnh những bài thơ về tình mẫu tử, tình anh em, có một đề tài cũng được khá nhiều nhà thơ khai thác, đó la tình vợ chồng. Một trong những bài thơ tiêu biểu về tình cảm vợ chồng là bài thơ Chinh phụ ngâm khúc của bà Đoàn Thị Điểm. Trong đó, để lại cho em ấn tượng nhất là đoạn trích “Sau phút chia li” diễn tả tình cảnh của người chinh phụ sau phút chia ta với chồng.

Đoạn trích đặt trong hoàn cảnh người chồng lên đường ra chiến trận- nơi đầy chông gai, nguy hiểm, không biết ngày trở về. Cảnh chia li bi thảm đó dễ gợi lên những tâm trạng khó nói thành lời, đặc biệt đối với các cặp vợ chồng. Người vợ sau khi tiễn chồng ra đi đã có những tình cảm, suy nghĩ, băn khoăn được Đoàn Thị Điểm khéo léo ghi lại.

  • “Chàng thì đi cõi xa mưa gió
  • Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.”

Sau chia li, mỗi người đi đến một hoàn cảnh đối lập nhau. Chàng- người chồng, đi đến nơi chiến trường xa xôi mưa gió. Đây là nơi khó khăn, gian khổ đầy nguy hiểm. Thiếp- người vợ, thì về nơi gian nhà hai người ở chúng, tuy an toàn nhưng lại đầy cô đơn lạnh lẽo. Trong phút chia li quyến luyến, cả hai cùng ngoảnh lại:

  • “Đoái trông theo đã mấy cách ngăn
  • Tuôn ngàn mây biếc, trải ngàn núi xanh.”

Cái “Đoái trông” thê hiện biết bao lưu luyến, mong chờ. Nhưng thứ họ nhìn thấy không phải bóng dáng người thương, mà là mây, là núi vì đã các ngăn muốn trùng. Tác giả sử dụng hai động từ “tuôn, trải” và điệp từ “ngàn” diễn tả cái rộng lớn, bạt ngàn của mây, của núi xanh, rộng lớn đến mức như tuôn ra, như trào ra. Nó tạo ra ngăn cản giữa chàng và thiếp. Và thiếp đã mượn hình ảnh Hàm Dương và Bến Tiêu Tương để thể hiện nỗi nhớ chàng:

  • “Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
  • Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
  • Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
  • Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.”

Tác giả sử dụng hình ảnh ước lệ tiêu biểu của thơ Trung Đại, dùng cây Hàm Dương và Bến Tiêu Tương để thể hiện sự trông ngóng của mình dành cho đối phường. Đồng thời nó cũng là một lời khẳng định, Bến Tiêu Tương cách xa Hàm Dương nhưng thiếp vẫn sẽ mãi như bến nước đợi chàng trở về.

Bốn câu thơ cuối ngân lên như một lời khẳng định về tình yêu:

  • “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
  • Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
  • Ngàn dâu xanh ngắt một màu
  • Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

Chi dù người chồng đã bước đi xa, người chinh phụ vẫn tưởng tượng đến giây phút cả hai người cùng ngoái lại nhìn đối phương. Nhưng trớ trêu thay, ngàn dâu đã che khuất bóng hình người thương. Ở đây tác giả đã thành công trong việc sử dụng điệp ngữ vòng, tạo thành một vòng lặp luận quẩn như chính tâm trạng người chinh phụ. Có lẽ nối nhớ chồng lên đến đỉnh điểm mới khiến nàng rơi vào vòng lặp đo. Và lòng nang bỗng hiện lên câu hỏi: “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” Câu hỏi tư từ vang lên như tự trách người chồng, nó cũng thể hiện nỗi nhớ không nguôi không gì cản lại được của người chinh phụ, chẳng cần biết ai sầu hơn ai, chỉ cần biết trong lòng hai người đều có nỗi nhớ.

Bài thơ sử dụng thành công thể thơ song thất lục bát, kết hợp với các từ ngứ gợi tả, hình ảnh ước lệ tượng trưng, điệp ngữ vòng, đã diễn tả câu chuyện cảm động về tình vợ chồng. Đó là câu chuyện về người vợ hết lòng thủy chung, lúc nào cũng hướng về người chồng. Bài thơ có giá trị ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người vợ, đồng thời tố cao chiến tranh khiến đôi lứa chia lìa.

Đoạn trích Sau phút chia li nói riêng và cả bài thơ Chinh phụ ngâm nói chung đã đem đến cho người đọc những cảm xúc mới lạ về tình cảm vợ chồng, dành được sự yêu mến đặc biệt của người đọc.

AT-wikivui.com

Văn mẫu lớp 7