wikivui.com logo

Cảm nghĩ về bài Qua đèo ngang lớp 7 hay nhất 2 bài văn phân tích - Bà Huyện Thanh Quan

Cuộc sống có biết bao cảnh đẹp làm say mê, hấp dẫn con người: từ những hình ảnh bình dị, quen thuộc, đến những thanh âm rồi cuộc sống sinh hoạt…Chính những cái đẹp đó khiến cuộc sống tâm hồn của con người trở nên phong phú và rộng rãi hơn. Cái đẹp của cuộc sống ấy chính là nền tảng hình thành nên những cái đẹp trong văn chương nghệ thuật. Người ta đã say mê cái đẹp cuộc sống thì cũng say mê cái đẹp của văn học. Những bài làm văn mẫu dưới đây sẽ giúp các bạn cảm nghĩ về bài “Qua đèo Ngang. Khi cảm nghĩ, các bạn cần lưu ý phải dựa vào câu chữ, tránh xuyên tạc nội dung, đồng thời, các bạn có thể bày tỏ những cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân để bài viết thêm sinh động, hấp dẫn. Các bạn có thể tham khảo những bài làm văn mẫu dưới đây để từ đó có thể định hình cách viết cho riêng mình. Chúc các bạn thành công!

qua deo ngang
Bài thơ Qua đèo ngang được tác giả vẽ lên 1 cách rất tài tình độc đáo vừa hay vừa vui nhộn với những từ láy và vần điệp

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 1 CẢM NGHĨ VỀ BÀI QUA ĐÈO NGANG

Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luân chuyển con người chỉ xuất hiện một lần trong đời và ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng những gì là thơ , là văn , là nghệ thuật đích thực thì còn mãi với thời gian . Có lẽ vè sau chúng ta gặp cảnh hoàng hôn và tâm sự u hoài trong hồn thơ nữu sĩ Thanh Quan qau áng văn trác tuyệt:

  • Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
  • Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
  • Lom khom dưới núi tiều vài chú,
  • Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
  • Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,
  • Thương nhà, mỏi miệng cái da da.
  • Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
  • Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Bà Huyện Thanh Quan được sống và được chứng kiến sự huy hoàng của triều đại nhà Lê. Hẳn trong lòng nữ sĩ không khỏi nuối tiếc cái vàng son ấy. Lời thơ của bà mang tâm sự hoài cổ. Ngay trong bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” ta thấy

  • Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
  • Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Hầu hết trong các thi phảm của bà đều mở đầu bằng hình ảnh hoàng hôn. TRong bài Qua đèo ngang cũng không nằm ngoài mô típ quen thuộc đó.

  • Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
  • Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Ở đây cảnh chiều tà được nữ thi sĩ chọn để xây dựng tứ thơ , không ồn ào , nái nhiệt mà lặng lẽ âm thầm như bức tranh cổ điển. Hình ảnh "bóng xế tà" lấy ý từ thành ngữ "chiều ta bóng xế" gợi cho ta một nét gì đó buồn man mác, mênh mang, có chút nuối tiếc về một ngày đang sắp qua. Trong khung cảnh hoàng hôn đẹp mà buồn ấy, tác giả chú ý đến một vài hình ảnh độc đáo của đèo Ngang "Cỏ cây chen đá, lá chen hoa". Phải chăng chọn thời điểm như thế tác giả muốn nhấn mạnh cho người đọc cái xơ xác vắng vẻ nơi đây.

Hai câu thực là khi tác giả đang ở trên đèo cao, phóng mắt nhìn về xung quanh, xa hơn những đá núi, cây cỏ để tìm đến bóng dáng con người:

  • Lom khom dưới núi tiều vài chú
  • Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Chữ "lom khom" khiến hình ảnh thơ thêm phần nào đó vắng vẻ buồn tẻ thê lương. Đây là một nét vẽ ước lệ mà ta thường thấy trong thơ cổ "vài" nhưng lại rất thần tình tinh tế trong tả cảnh. Biện pháp tu từ đảo ngữ được tác giả sử dụng triệt thành công " Lom khom, lác đác". Đồng thời cũng là những từ láy nhằm chỉ sự hoạt động nhỏ nhặt nhấn mạnh vào sự cô quạnh nơi đây. Đòng thời lột tả về nhịp sống mong manh, thưa thớt mà tẻ nhạt thiếu sức sống.

Trong sự hiu quạnh đó bỗng vang lên tiến kêu của loài chim quốc quốc, chim gia trong cảnh hoàng hôn đang buông xuống.

  • Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
  • Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Nghe tiếng chim rừng mà tác giả thấy nhớ nước, nghe tiếng chim gia gia tác giả thấy nhớ nhà. Dường như nỗi lòng ấy đã thấm sâu vào nỗi lòng nhà thơ da diết không thôi. Ở đây cảm xúc của nhà thơ được bộc lộ rõ rệt. Nghệ thuật chơi chữ đồng âm độc đáo kết hợp nhân hóa cùng chuyển đổi cảm giác gây ấn tượng mạnh đã cho ta thấy được tấm lòng yêu nước thương nhà của Bà Huyện Thanh Quan.

  • Dừng chân ngắm lại trời non nước
  • Một mảnh tình riêng ta với ta"

Câu kết bài thơ dường như cũng chính là sự u hoài về quá khứ của tác giả. Cái bao la của đất trời, cái hùng vĩ của núi non, cái mênh mông của sông nước như níu bước chân nữ thi sĩ. Nhưng đứng trước không gian bao la của đèo Ngang , tác giả chợt nhận ra nỗi cô đơn trong lòng mình dần lấp đầy tâm hồn, bao chùm lên mọi cảnh vật“một mảnh tình riêng ta với ta”.

Bài thơ "Qua đèo ngang" với tài năng nghệ thuật tác giả, kết hợp nhuần nhuyễn giữa các từ láy, các phép đối đã làm nên một thi phẩm để đời. Qua đó ta thấy thêm hiểu nỗi lòng của một thi nữ tài năng mà cũng đầy trân trọn và cảm thông với bà.

Yang-wikivui.com

qua deo ngang lop 7

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 2 CẢM NGHĨ VỀ BÀI QUA ĐÈO NGANG

Câu thơ mẫu mực, cổ điển mà không gò bó, tình cảm dạt dào mãnh liệt những nén chặt trong từng câu chữ, đó chính là cái tài, cái tâm xứng đáng được lưu truyền muôn đời của Bà Huyện Thanh Quan. Vị nữ sĩ sắc xảo và tài hoa đã để lại cho nền văn học nước nhà những áng thơ vô cùng quý giá mà tiêu biểu là “Qua đèo Ngang”, một bức tranh thiên nhiên đẹp mà buồn hay cũng chính là bức tranh tâm trạng đồng điệu của người nghệ sĩ.

Cuối thế kỉ 19, Bà Huyện Thanh Quan được nhà vua phong chức “cung trung giáo tập”,trở thành người dạy nghi lễ cho các cung nữ phi tần, trên đường đi nhận chức, bà đã đi qua đèo Ngang. Tấm lòng nữ nhân lần đầu phải xa nhà lại bắt gặp khung cảnh đìu hiu nơi ấy đã làm bà tức cảnh sinh tình mà viết nên bài thơ

  • “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
  • Cỏ cây chen lá, đá chen hoa”

Tuân theo đúng kết cấu đề-thực-luận kết của thể thất ngôn bát cú, hai câu thờ đầu đã giới thiệu khái quát cho người đọc về không gian và thời gian trữ tình của bài thơ. Đó là nơi đèo Ngang  vào khi “bóng xế tà”, tức là buổi chiều muộn, khoảng thời gian gợi cho người ta nỗi nhớ nhà. Với những người phải rời xa gia đình quê nhà như Bà Huyện Thanh Quan, nỗi niềm đó lại càng được thấm thía sâu sắc lên cả cảnh vật. Bức tranh thiên nhiên đèo Ngang có đầy đủ “cỏ, lá, đá, hoa”, những tưởng sẽ là yêu tố hoàn hảo tạo nên vẻ hùng vĩ mỹ lệ của thơ cổ điển nhưng chúng lại “chen” nhau để tồn tại trên vùng đất ảm đạm thiếu sức sống này.

Ở hai câu thực, hình ảnh con người đèo Ngang đã dần hiện ra

  • “Lom khom dưới núi tiều vài chú
  • Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Những tưởng con người sẽ làm cảnh vật bớt lạnh lẽo và đìu hiu thế nhưng có lẽ con người ở đây chỉ làm nền tô đậm thêm không gian rợn ngợp, vắng lặng nơi đèo Ngang. Bởi dáng vẻ “lom khom” cùng số lượng ít ỏi “vài, mấy”, “lác đác” đã chứng minh con người không hề đã hoàn toàn bị thiên nhiên nuốt chửng, sự sống như ngọn cỏ lau nhỏ bé lay lắt đến đáng thương. Hai từ láy “lom khom”, “lác đác” cùng đảo lên đầu câu tạo thành một vế đối mẫu mực, tái hiện lai hoàn hảo bức tranh sinh hoạt và lao động hàng ngày đầy buồn tẻ, ảm đạm ở đèo Ngang.

Hai câu luận chính là nỗi lòng khắc khoải của Bà Huyện Thanh Quan khi chứng kiến khung cảnh quạnh hiu vắng vẻ của đèo Ngang

  • “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
  • Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Nổi bật nhất trong hai câu này chính là phép chơi chữ rất độc đáo và sâu sắc “quốc quốc”, “gia gia”, vừa nhằm gợi âm thanh của chim cuốc, chim đa đa nhưng cũng là để cất lên tiếng lóng nhớ nhung, xót xa khi nghĩ về nước nhà. Tiếng chim kêu thê lương khắc khoải trong không gian cũng tựa như nỗi nước nhà mang nặng trong lòng người đi xa. Với tính chất của câu luận trong thơ cổ điển, tâm trạng của tác giả không chỉ dừng ở nỗi nhớ nhà, nhớ gia đình, có lẽ hơn thế, đó còn là nỗi nước nhà, đau xót cho đất nước trước buổi loạn lạc, vẻ ảm đạm buồn hiu quạnh của đèo Ngang có lẽ cũng là bối cảnh chung của quốc gia thời bấy giờ, khiến cho người nghệ sĩ không khỏi suy tư, rung động.

Bài thơ khép lại bằng một cái nhìn toàn cảnh về đèo Ngang

  • “Dừng chân đứng lại trời non nước
  • Một mảnh tình riêng, ta với ta”

Ta có thẻ cảm nhận được tác giả đang đối mặt trực tiếp với thiên nhiên. Trước thiên nhiên rợn ngợp bao la với trời, non, nước lại chỉ có “một mảnh tình riêng”, chữ “một” cùng “riêng” đã nhấn mạnh vào sự cô độc, lẻ loi của tác giả, nỗi lòng không thê san sẻ cho ai mà cũng không ai có thể hòa điệu. Sự đơn độc đã được đẩy lên tuyệt đối khi bà kết bài thơ bằng ba tiếng “Ta với ta”, rõ ràng là có hai về đối diện nhau ấy vậy mà thực chất chỉ có một, một mình đối diện với chính mình, nỗi hoang lạnh trong lòng người còn hơn cả cảnh, cảnh buồn đến vậy nhưng cũng không thể đồng điệu cùng cõi lòng bơ vơ, cô đơn. Bài thơ kết thúc nhưng tâm trạng ấy cứ vương vấn ám ảnh ta mãi...

Hàng nghìn năm lịch sử trôi qua, áng thơ của Bà HuyệnThanh Quan vẫn còn lay động biết bao thế hệ, đó chính là nhờ tài năng thi ca điêu luyện cùng tâm hồn thi sĩ đẹp đẽ tinh tế trước cuộc đời của bà.

trang-wikivui.com

Văn mẫu lớp 7