wikivui.com logo

Tập làm văn bài viết số 6 lớp 9 đề 2: Phân tích những chuyển biến mới trong tình cảm người nông dân Việt Nam

Kim Lân là một trong những nhà văn lớn của dân tộc , được mệnh danh là “cha đẻ của đồng ruộng”. Sống từ nhỏ gắn bó với làng quê, với những người dân lương thiện nơi quê hương nên trong các tác phẩm của ông luôn phảng phất hương vị của đồng quê, xoay quanh cuộc sống của người nông dân. Một trong những tác phẩm thành công của ông là truyện ngắn “Làng”.Thế nhưng cùng viết về đề tài người nông dân, Kim Lân không giống với các nhà văn khác khi viết về cuộc sống nghèo khổ, số phận bất hạnh của họ, ông viếT về những chuyển biến mới mẻ trong tình cảm của người nông dân trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến. Người nông dân đã phát triển từ tình yêu quê hương dần sang tình yêu đất nước, yêu kháng chiến. Bài văn mẫu dưới đây sẽ hướng dẫn các bạn làm bài văn trình bày suy nghĩ về những chuyển biến trong tình cảm của người nông dân hay và ấn tượng nhất. Chúccácbạnlàmbàithành công.

Các bài viết liên quan tới chủ đề bài viết số 6 lớp 9 đề 2 đáng chú ý:

lang cua kim lan

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 1 PHÂN TÍCH NHỮNG CHUYỂN BIẾN CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Kim Lân là nhà thơ được mệnh danh là “cha đẻ của đồng ruộng”. Ông sống gắn bó với đời sống người nông dân từ nhỏ nên ông có những cảm nhận tinh tế, đầy đủ về đời sống của họ. Bởi vậy, ông đã rất thành công trong việc khắc họa những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp qua truyện ngắn “Làng”.

“Làng” được sáng tác năm 1948 khi mà cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, những vùng trọng yếu phải đi tản cư. Làng Chợ Dầu quê ông Hai cũng nằm trong vùng kháng chiến phải đi tản cư. Tuy nhiên khi đã rời làng nhưng tình cảm của ông vẫn luôn gắn chặt với làng.

Tình yêu làng của ông được thể hiện rõ nét qua cái tính hay khoe làng của ông. Ông hãnh diện về “cái sinh phần” của ông viên tổng đốc làng, có khách lên chơi ông dắt ra xem cho kì được cái sinh phần ấy. Rồi sau Cách mạng tháng Tám ông mới nhận ra được cái mà ông luôn hãnh diện ấy là cội nguồn của cái khổ cho dân làng ông. Cái chân khập khiễng của ông cũng là vì cái sinh phần ấy. Bởi vậy, ông đổi cái khoe. Ông tự hào vì làng ông tham gia kháng chiến, về những buổi tập quân sự, có nhiều hố, nhiều ụ, nhiều giao thông hào để chuẩn bị cho kháng chiến, có cái phòng thông tin rộng rãi nhất vùng, có chòi phát thanh, có nhà ngói san sát, sầm uất. Trong ông Hai dần có sự chuyển biến tình cảm, ông không chỉ yêu làng mà dần có tình yêu kháng chiến.

Sự chuyển biến tình cảm ấy càng được thể hiện rõ nét khi ông Hai nghe tin làng ông theo giặc. Cái tin ấy như nhát dao đâm vào lòng ông, “cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân” Ông lặng đi rồi lẩn về. Ông trằn trọc suy nghĩ rất nhiều, trong con người ấy là cả một cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt, một bên là cái làng mà ông yêu quý, mà ông vẫn tự hào một bên là đất nước, là kháng chiến, là cụ Hồ trên đầu ông. Ông sợ hãi không dám đối diện với ai, lúc nào cũng lui lủi trong nhà. Và cuối cùng ông đã có thể đưa ra quyết định của mình sau khi tâm sự với đứa con nhỏ. Cái hành động giơ cao tay lên trời trả lời to tất cả đều sẽ theo cụ Hồ của đứa con đã làm sáng tỏ tấm lòng của ông Hai. Ông khẳng định: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”. Sự chuyển biến trong tình cảm của ông Hai đã được thể hiện rõ nhất, tình yêu quê hương đã chuyển sang tình yêu đất nước, yêu kháng chiến. Cho dù phải bỏ cái làng mà ông luôn yêu quý, luôn tự hào thì tình yêu kháng chiến trong ông vẫn sẽ cháy rực rỡ.

Nhưng cuối cùng niềm vui đã đến với ông Hai. Ông chủ tịch làng ông lên thông báo làng Chợ Dầu không đi theo Việt gian. Tin này đến với ông quá bất ngờ mang đến niềm vui mừng không tả xiết. Ông đi đến tối sẩm mới về, hồ hởi gọi các con ra lấy bánh rán đường mà chia nhau. Rồi ông sang nhà bác Thứ, đi hết nhà này sang nhà khác khoe làng ông không theo Tây, làng ông vẫn là làng kháng chiến. Đoạn kết truyện đã đem đến cho người đọc những cảm nhận về người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp với tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần sẵn sàng kháng chiến.

Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân đã khắc họa thành công sự chuyển biến trong tình cảm của người nông dân thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Họ luôn mang trong mình tình yêu làng, nơi gắn bó với cả cuộc đời họ. Thế nhưng kháng chiến nổ ra, tình yêu làng ấy đã nâng lên một nấc thang mới, phải gắn liền với tình yêu kháng chiến, tình yêu đất nước. Họ có thể hi sinh tình yêu máu thịt với làng để phục vụ cho một tình yêu cao cả hơn. Sự chuyển biến ấy chính là khởi đầu cho những hành động cao cả, tốt đẹp trong cuộc kháng chiến của toàn dân tộc.

Hikari- wikivui.

BÀI VIẾT SỐ 2 PHÂN TÍCH SỰ CHUYỂN BIẾN MỚI TRONG TÌNH CẢM NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA “LÀNG” CỦA KIM LÂN.

“Làng” là một tác phẩm đặc sắc của Kim Lân trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. tác phẩm đã thể hiện thành công hình ảnh của người nông dân cách mạng đặc biệt là những chuyển biến mới mẻ trong tình cảm của họ đã được Kim Lân thể hiện một cách rõ nét qua nhân vật ông Hai. Ông Hai trong tác phẩm là một người nông dân bình dị, chăm chỉ, chân chất mộc mạc, vì vậy là tình yêu lành đối với họ dường như không thể thiếu. Cũng giống như bao người, ông Hai cũng có một quê hương để yêu thương, gắn bó và làng Chợ Dầu là niềm tự hào, kiêu hãnh của ông. Ông hay khoe làm của mình có một thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, đường làng lát đá xanh trời mưa trời gió tha hồ đi khắp nơi , bùn không dính đến gót chân. Ông còn khoe làng là cái “Sinh phần” của viên tổng đốc làng, ông có vẻ hãnh diện cho cái Sinh phần ấy lắm.Tuy yêu làng nhưng ông lại phải rời làng đi tản cư, nhưng không vì thế mà tình yêu của ông với làng bị vơi cạn. Ở nơi tản cư, ông thường hay nhớ về làng làng, nhớ về những ngày làm việc cùng anh em. Ông vẫn dõi theo làng, dõi theo tình hình chiến sự. Ông vui sướng trước những tin nghe được từ phòng thông tin , “ruột gan ông cứ múa cả lên”. Như vậy tình cảm yêu làng của ông Hai đã có sự biến chuyển, ông Hai vẫn yêu làng, vẫn tự hào về làng nhưng tình yêu ấy còn gắn liền với tình yêu nước tình yêu kháng chiến. Để làm nổi bật hơn những biến chuyển trong tình cảm của người nông dân ăn, Kim Lân đã đặt nhân vật vào trong một tình huống bất ngờ, gây gắt : ông hai nghe được tin từ những người tản cư rằng làng chợ Dầu của ông theo Tây. Khi nghe được cái tin ấy, ông Hai sững sờ, xấu hổ, “có ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, ông lặng đi tưởng như không thở được”. Từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tin, ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ. Anh không dám tin còn hỏi lại để xác định rõ, nhưng rồi sau khi nghe người ta bàn tán khẳng định niềm tin làng của ông Hai đã sụp đổ. Từ lúc ấy trong ông chỉ còn cái tin dữ ấy, nó cứ ám ảnh đeo bám ông khiến ông chỉ còn biết “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà ông chỉ biết nằm vật ra giường nhìn những con chơi ngoài sân mà “nước mắt ông cứ ứa ra”. Thấy thương cho chính mình và các con con gì bị mang danh là tên bán nước. Mấy ngày sau đó, ông chẳng đi đâu cả, chỉ quanh quẩn ở nhà nghe ngóng tình hình bên ngoài,dăm ba câu bàn 8 của người ngoài cũng làm ông chột dạ. Trong lúc ấy khi ông bị đặt vào một tình huống bế tắc , ông không biết đi đâu cả. Nếu ông về làng bây giờ đồng nghĩa với việc theo giặc phản bội lại kháng chiến, ở lại thì cũng không xong vì mụ chủ nhà đã có tiếng của đuổi , mà không về làng thì giá đình ông biết đi đâu mà đi bởi không đâu người ta chưa chấp những kẻ việt gian bán nước. Đặt nhân vật vào tình huống này Kim Lân đã thể hiện rõ tình cảm của người nông dân cách mạng qua những dòng bộc lộ nội tâm. Nếu như trước đây tình yêu làng luôn hoà vào tình yêu nước, yêu kháng chiến thì nay ông Hai phải lựa chọn giữa một bên là về làng với một bên là ở lại chiến đấu vì Tổ quốc. Nhưng rồi ông cũng quyết định “ Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” Tình cảm cá nhân , tình yêu làm dù lớn lao thế nào cũng không thể lấn áp đi tình yêu nước đó là nét đẹp của người nông dân Việt Nam trong thời kì ấy. Để vơi đi nỗi nhớ làng, ông Hai trò chuyện cùng thằng con út, ông khẳng định lại với con tình yêu làng quê và sự thủy chung với đất nước, với Cụ Hồ sáng soi. Trong lúc ông Hai đang phân vân ấy thì cái tin làng chợ Dầu theo Tây được cải chính. Nỗi đau đớn của ông trong mấy ngày qua tan biến đi, ông Hai vui mừng phấn khởi chạy khắp nơi khoe cái tin cải chính ấy, ông còn khoe cả tính nhà mình bị giặc đốt cháy nữa. Như vậy tình yêu làng tình yêu nước của ông Hai đã xoá tan cả đi nỗi mất nhà mất cửa chỉ còn niềm vui sướng hân hoan trước cái tin cải tổ ấy. Ông Hai từootj người nông dân bình thường giản dị chăm chỉ và yêu làng yêu quê đã trở thành một công dân yêu nước, hai tình yêu ấy luôn sống hành hoà quyện vào nhau trong trái tim của những người nông dân Việt lúc bấy giờ.

Aiki-wikivui.com

BÀI VIẾT SỐ 3 PHÂN TÍCH SỰ CHUYỂN BIẾN MỚI TRONG TÌNH CẢM NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA “LÀNG” CỦA KIM LÂN.

Trong làng văn học hiện đại Việt Nam, Kim Lân được gọi là nhà văn của nông dân, người một lòng đi về với “đất”, với “người”, với “những thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn. Dưới con mắt hồn hậu của Kim Lân, người nông dân luôn hiện lên với những nét giản dị nhưng cũng đầy mới mẻ. Có thể thấy điều đó qua sự chuyển biến mới mẻ trong tình cảm người nông dân Việt Nam qua truyện ngắn “Làng”.

“Làng” là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân về chủ để làng quê, nông thôn và nông dân được viết thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (1948). Tinh thần kháng chiến đã được xác định nhưng lại dễ bị lung lay bởi những sự việc có tính kích động. “Làng” của Kim Lân xuất hiện như một lời khẳng định, một sự cổ vũ đối với tinh thần yêu nước, tinh thần kháng chiến của nhân dân.

Người nông dân Việt Nam ngàn đời luôn yêu những lũy tre xanh, những cánh đồng bát ngát đã gắn bó với họ từ khi sinh ra đến lúc về với đất. Vì thế, tình yêu quê hương, yêu làng xóm là tình yêu phổ biến và có tính chất truyền thống, là dòng máu đã chảy trong người nông dân.

Ông Hai cũng thế, ông yêu tha thiết cái làng chợ Dầu của mình. Đi đê đâu, ông cũng đều khoe về cái làng của mình, nói một cách say sưa mà không biết người nghe có chú ý hay không. Trước cách mạng, ông khoe về những công trình, sự giàu có của làng mình: khoe làng ông có nhà ngói san sats với cái sinh phần của viên tổng đốc sừng sững ở cuối làng, đường làng toàn lát bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Sau cách mạng, ông không khoe về cái sinh phần ấy nữa, bởi ông biết nó là tàn dư của phong kiến, là cái đã gây đau khổ cho làng ông. Ông Hai vẫn khoe về làng, nhưng khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự, khoe những hố, những ụ, những hào, … những côn trình không kể đâu cho hết được. Kháng chiến bùng nổ, dù không muốn nhưng ông vẫn phải đưa gia đình đi tản cư mà xa làng. Ở nơi tản cư, ông luôn nhớ về những ngày làm việc cùng anh em. Ông luôn tự hào về làng chợ Dầu của ông không chỉ đẹp mà còn là làng kháng chiến. Mọi tin tức về làng, về công cuộc kháng chiến ở làng đều được ông quan tâm và dõi theo. Như vậy, ngay trong tình yêu làng của ông đã có sự chuyển biến. Từ yêu làng một cách mơ hồ: yêu tất cả những gì của làng đến biết gắn làng với cách mạng, ông yêu làng bởi làng ông là làng kháng chiến, làng ông là làng cách mạng. Tình yêu quê hương làng xóm giờ đây đã có sự phát triển, gắn với tình yêu cách mạng, yêu đất nước.

Đặc biệt, sự chuyển biến mới mẻ trong người nông dân thực sự rõ rệt là khi Kim Lân để cho cho nhân vật của mình lựa chọn giữa tình yêu làng và lòng yêu nước – khi ông Hai nghe tin làng theo giặc. Nghe được tin ấy, ông sững sờ: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”. Ông cố trấn tĩnh lại với niềm tin rằng đó không phải là sự thật nhưng những người tản cư “vừa ở dưới ấy lên”, họ kể rành rọt quá, khiến ông không thể không tin. Cái làng mà ông vẫn nhất mực yêu quý, nhất mực tự hào lại quay lưng với ông. Ông Hai như đứng trước bờ vực của sự tuyệt vọng và đớn đau, và cả sự tủi hổ. Trên đường về, ông cứ “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông “nằm vật ra giường, nhìn đàn con mà nước mắt ông lão cứ giàn ra”. Bao nhiêu câu hỏi cứ dồn dập, tâm trạng rối bời, lẫn lộn khiến ông trở nên cáu gắt vô cớ với người vợ của mình. Suốt mấy ngày sau, ông lão không dám đi đâu. Ở trong nhà, chỉ cần “một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, đang bàn tàn đến “cái chuyện ấy””. Ngay chính ông cũng không dám chập nhận và đối mặt với việc làng mình là Việt gian mà phải gọi bằng cái tên “cái chuyện ấy”. Thoáng nghe “Việt gian, Tây, Cam – nhông..” là ông lại lủi  ra góc nhà: “thôi lại chuyện ấy rồi”. Ở nơi này, ông vẫn không thể nguôi nỗi tủi hổ, nhục nhã của một tên bán nước.

Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy mới giúp con người nhận thức rõ hơn về tình cảm và thái độ của mình. Chính lúc đưa ra lựa chọn mới là là sự thể hiện của của mỗi người. Ông đã từng coi quê hương và Tổ quốc chính là một. Nhưng giờ, giữa làng và nước, giữa quê hương ông đã gắn bó bao năm và Tổ quốc thiêng liêng, ông phải lựa chọn. Rồi ông bất chợt nghĩ: Hay là quay về làng. Vì dẫu sao, đó là nơi ông đã chôn nhau cắt rốn. Và người nông dân xưa cũng đã bao giờ ra khỏi lũy tre làng đâu. Cái làng ông đã từng nhớ da diết và ước mong trở về. Nhưng lập tức, ông lại phản đối ngay: “về làm gì cái làng ấy, về tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ” và khẳng định: “Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì papir thù”. Tình yêu cá nhân đã không thắng nổi tình yêu dân tôc, tình cảm đất nước đã bao trùm lên tình yêu quê hương. Đó thực sự là một quyết định đầy đau đớn. Sâu thẳm cõi lòng người nông dân ấy vẫn dành tình yêu cho cái làng của mình, nhưng đó là làng Chợ Dầu kháng chiến. Tình cảm dành cho đất nước, hướng về kháng chiến đã làm thay đổi người nông dân Việt Nam. Đó chính là nét chuyển biến mới của người nông dân trong thời đại mới. Điều đó càng được tác giả khẳng định trong lời nói có phần thơ ngây của đứa con: “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh”. Tấm lòng đơn sơ, chân thành mà sâu nặng, vững bền: “Cái lòng bố con ông như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”.

Và tình yêu ấy, sự thay đổi ấy đã được đối chứng và càng thêm vững bền khi ông Hai nghe tin làng mình không theo Tây, vẫn là làng kháng chiến. “Ông cứ múa tay lên mà khoe cái tin ấy với mọi người” bằng khuôn mặt “vui tươi, rạng rỡ hẳn lên”. Đối với những người nông dân, ngôi nhà là cả cơ nghiệp, một đời dựng xây và vun đắp. Có ai khi nhà bị đốt lại có thể sung sướng đi báo với mọi người: “ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính, ông ấy cho biết… cái tin, cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! toàn là sai sự mục đích cả”. Người nông dân hiện lên thật hóm hỉnh và đáng yêu, vì chữ “sai sự mục đích cả” ấy.

So với người nông dân trước kia bị bủa vây bởi: cái đói và miếng ăn, cuộc sống chỉ lo cơm áo gạo tiền đã đủ mệt thì với người nông dân giai đoạn này đã khác. Kháng chiến đã mang lại cho họ cuộc sống khác, và từ lũy tre làng nhỏ hẹp, từ cuộc sống của mình, họ biết nghĩ đến đất nước, dân tộc, họ biết nghĩ và sống cho tương lai của đất nước và cũng của chính mình. Đó chính là những nét mới mẻ được Kim Lân, qua con mắt hồn hậu, thấu hiểu đã cảm nhận được và thể hiện qua tình huống truyện đặc sắc, kịch tính và hình tượng nhân vật độc đáo với ngôn ngữ khẩu ngữ mang đậm tính khẩu ngữ vừa hóm hỉnh lại sâu sắc.

“Làng” không chỉ đơn giản viết về một giai đoạn mà là lời ngợi ca vẻ đẹp và phẩm chất mới của người nông dân Việt Nam trong thời đại mới. Đó chính là lí do tác phẩm có thể sống cùng với thời gian, trong lòng người đọc đến ngày hôm nay.

-Hương Đoànn-wikivui.com

Văn mẫu lớp 9